Đặt vấn đề và hướng nghiên cứu Tính chất của ZnO được quan tâm nghiên cứu đến là khả năng phát xạ bức xạ ở vùng tử ngoại và vùng khả kiến, giúp ZnO có tiềm năng ứng dụng to lớn trong việc phát sáng. Bề mặt ZnO tồn tại khuyết tật do các nguyên tử oxi và nguyên tử kẽm bị khuyết hoặc xen kẽ, giúp vật liệu này có khả năng phát quang một vùng bức xạ rộng trong miền ánh sáng khả kiến. Tuy nhiên, các ứng dụng của ZnO có thể bị hạn chế do khuyết tật bề mặt sẽ gây ảnh hưởng đến cường độ phát xạ đỉnh ở bước sóng 380 nm. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp cho vấn đề này như phủ hạt nano kim loại Au hay Ag lên bề mặt ZnO; hay đặt trên bề mặt ZnO một cấu trúc tuần hoàn với kết quả thu được đã làm tăng cường độ đỉnh phát xạ ở bước sóng 380 nm.
Graphene - một loại vật liệu rất mỏng, chỉ bao gồm một lớp các nguyên tử cacbon liên kết với nhau tạo thành mạng tổ ong thông qua các liên kết sp2. Graphene sở hữu nhiều tính chất vật lý đặc biệt mà ít vật liệu nào có được như độ truyền qua cao (97.4%), độ linh động hạt tải lớn, độ dẫn nhiệt cao (53 W. Do đó, tuy chỉ được tổng hợp thành công trong thời gian gần đây, vật liệu Graphene đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu từ các nhà khoa học, cũng như có một số lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến graphene đã được công bố [7, 8]. Trong đó, sự kết hợp giữa Graphene và ZnO đã đóng góp nhiều trong các ứng dụng quan trọng như cảm biến khí, cảm biến y sinh, vật liệu nanocomposite, transistor, thiết bị phát sáng, và các ứng dụng khác.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu về tương tác giữa Graphene Oxide (GO) và ZnO được ứng dụng trong thiết bị phát sáng.3 Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu lý thuyết về công nghệ vật liệu nano, cấu trúc, tính chất, các phương pháp chế tạo và các ứng dụng của vật liệu nanocomposites ZnO – Graphene. Nghiên cứu thực nghiệm và lập quy trình công nghệ chế tạo vật liệu nanocomposites ZnO – Graphene bằng phương pháp thuỷ nhiệt. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian, nhiệt độ và nồng độ đến cấu trúc của vật liệu tổng hợp.4 Nội dung nghiên cứu Khảo sát ảnh hưởng của thời gian, nhiệt độ và nồng độ đến cấu trúc của vật liệu nanocomposites ZnO – Graphene bằng phương pháp thủy nhiệt.5 Tính mới Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, đã có nhiều nhóm nghiên cứu tập trung vào việc tổng hợp các vật liệu có cấu trúc nano và chế tạo thiết bị như các nhóm nghiên cứu của Giáo sư (GS.) Nguyễn Châu, GS. Nguyễn Xuân Phúc, GS.
Nguyễn Đức Chiến, GS. Phan Hồng Khôi, PGS. Phan Ngọc Minh, GS. Nguyễn Năng Định, GS.
Đoàn Nhật Quang, PGS. Nguyễn Văn Hiếu, GS. Nguyễn Văn Hiệu và Tiến sĩ Mai Anh Tuấn. Tuy nhiên, chỉ một vài nhóm là tập trung nghiên cứu của mình vào việc tổng hợp, chế tạo và ứng dụng cảm biến dây nano nhằm phát hiện ra các khí độc hại trong lĩnh vực môi trường.
Ví dụ, trong thời gian gần đây nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Văn Hiệu và PGS. Nguyễn Văn Hiếu đã tổng hợp thành công các cấu trúc nano ZnO, sử dụng để phát hiện khí CO, NO2, và các khí khác. Do đó, có thể nói rằng, lĩnh vực nghiên cứu chế tạo và ứng dụng tính chất quang của vật liệu nanocomposites ZnO – Graphene chưa được nghiên cứu nhiều ở trong nước và vẫn còn có nhiều khía cạnh cần phải được tiếp tục tìm hiểu và khám phá.6 Ý nghĩa của nghiên cứu Nghiên cứu phương pháp tổng hợp và tính chất của vật liệu có kích thước siêu nhỏ, đặc biệt là vật liệu nano.
Vật liệu nano là xu thế chung tất yếu của toàn thế giới bởi chúng không chỉ mang những tính chất mới lạ mà vật liệu với cùng thành phần không có được, kích thước nano còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm kích thước của thiết bị, giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng và giảm ảnh hưởng có hại tới môi trường. Với những ưu điểm nổi bật đó, các vật liệu nano như tấm nano Graphene, vật liệu bán dẫn nano TiO2, CeO, SnO2, và ZnO đã được tổng hợp và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như điện tử, quang điện tử, sinh học, môi trường, và cảm biến. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về Graphene, Graphene Oxit 2.1 Tổng quan về Graphene Graphene được tạo thành từ các nguyên tử cacbon sắp xếp theo cấu trúc lục giác trên cùng một mặt phẳng, hay còn gọi là cấu trúc tổ ong. Trong đó, mỗi nguyên tử cacbon liên kết với ba nguyên tử cacbon gần nhất bằng liên kết π – π, hợp với nhau thành các góc 120o, tương ứng với trạng thái lai hóa sp2, khoảng cách giữa các nguyên tử cacbon gần nhất là 0,142 nm.
Theo nguyên lý pauli, lai hóa sp 2 đặc trưng cho mức độ bền vững trong cấu trúc phẳng của màng Graphene, obitan còn lại nằm vuông góc với cấu trúc phẳng của màng xen phủ bên hình thành liên kết π (Hình 1) [1].1: Cấu trúc Graphene. • Tính chất điện Graphene có độ linh động điện tử cao gần 15000 cm2.s-1 ở nhiệt độ phòng, điện trở suất của graphene vào khoảng 10-6 .cm, thấp hơn điện trở suất của Ag. Graphene đơn lớp có năng lượng vùng cấm gần như bằng không, điều này giúp tạo nên khả năng siêu dẫn điện đặc biệt của Graphene [1]. • Tính chất nhiệt Graphene dẫn nhiệt theo các hướng khác nhau , độ dẫn nhiệt của vật liệu Graphene gần bằng 5000 W.K-1 ở nhiệt độ phòng, cao hơn các dạng cấu trúc khác của cacbon như ống cacbon, than chì, và kim cương.
Graphene dẫn nhiệt tốt hơn đồng gấp 10 lần, ở nhiệt độ phòng, độ dẫn nhiệt của Cu là 401 W. • Tính chất cơ Để đo được độ bền của vật liệu Graphene, các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật kính hiển vi lực điện tử. Kết quả đo và tính toán cho thấy độ bền kéo của Graphene là 125 GPa, chứng tỏ Graphene là vật liệu rất cứng [1]. • Tính chất quang Graphene hầu như trong suốt, nó hấp thụ chỉ 2,3% cường độ ánh sáng, độc lập với ánh sáng vùng quang học [1].
• Tính chất hóa học Tương tự bề mặt Graphite, Graphene có thể hấp thụ và giải hấp thụ các nguyên tử và phân tử khác như NO2, NH 3, K, và OH, khả năng này giúp Graphene được ứng dụng làm cảm biến hóa chất [1].2 Tổng quan về Graphene Oxit (GO) Khi các nguyên tử cacbon lai hóa sp 2 trong các lớp Graphene bị oxi hóa chuyển thành cacbon có trạng thái lai hóa sp3, lúc này, trên bề mặt của lớp Graphene xuất hiện các nhóm chức như –COOH, -OH, -C-O-C-, -C=O, v.v… hình thành nên một dạng biến đổi của Graphene, được gọi là Graphene Oxit (GO) [2].2: Cấu trúc graphene oxit.3: Cấu trúc Graphene, Graphene Oxit, reduced Graphene Oxit.2 Tổng quan về kẽm oxit 2.1 Giới thiệu về ZnO Kẽm oxit (ZnO) là tinh thể được hình thành từ nguyên tố nhóm IIB (Zn) và nguyên tố nhóm VIA (O). ZnO có ba dạng cấu trúc gồm hexagonal wurtzite, zincblende, và rocksalt [3]. Trong đó: • Cấu trúc hexagonal wurtzite có tính chất nhiệt động lực ổn định nhất trong điều kiện nhiệt độ và áp suất môi trường xung quanh. Mỗi anion O2- bị bao quanh bởi bốn cation Zn2+ ở bốn góc của tứ diện, và ngược lại mỗi cation Zn2+ bị bao quanh bởi bốn anion O2- [3].4: Cấu trúc hexagonal wurtzite của ZnO • Cấu trúc Zincblende chỉ kết tinh trên đế có cấu trúc lập phương.
Trong cấu trúc này, mỗi ô cơ sở có 4 phân tử ZnO, mỗi nguyên tử bất kì được bao bọc bởi 4 nguyên tử khác loại: mỗi nguyên tử Zn được bao bọc bởi 4 nguyên tử O nằm ở 4 đỉnh của một tứ diện [3].5: Cấu trúc Zincblende của ZnO • Cấu trúc Rocksalt chỉ tồn tại ở điều kiện áp suất cao. Trong cấu trúc này mỗi ô cơ sở có 4 phân tử ZnO, mỗi nguyên tử Zn liên kết với 4 nguyên tử O lân cận gần nhất nằm trên 4 đỉnh của một tứ diện đều [3].6: Cấu trúc Rocksalt của ZnO Ở điều kiện bình thường, tinh thể ZnO tồn tại dưới dạng cấu trúc wurtzite, bao gồm 2 mạng lục giác xếp chặt: một mạng của cation Zn2+ và một mạng của anion O2-, lồng vào nhau một khoảng cách 3/8 chiều cao (Hình 2. Mỗi ô cơ sở có 2 phân tử ZnO, trong đó, có 2 nguyên tử Zn nằm ở vị trí (0,0,0), (1/3,1/3,1/3) và 2 nguyên tử O nằm ở vị trí (0,0,u), (1/3,1/3,1/3+u) với u ≈ 3/8. Mỗi nguyên tử Zn liên kết với 4 nguyên tử O nằm trên 4 đỉnh của một tứ diện [4].
Khoảng cách giữa các mặt mạng (dhkl) có chỉ số Miller (hkl) trong hệ lục giác wurtzite là: 1 d = (1.2 Cấu trúc vùng năng lượng ZnO có độ rộng vùng cấm thẳng (cực tiểu tuyệt đối của vùng dẫn và cực đại của vùng hóa trị xảy ra tại điểm với k = 0). Cấu trúc vùng năng lượng của tinh thể Wurtzite thể hiện tính đối xứng cao trong vùng Brillouin dạng lục lăng tám mặt. Trên biểu đồ mô tả cấu trúc vùng năng lượng E(k) của ZnO trong Hình 2.7, ta thấy vùng lục giác Brillouin có tính đối xứng đường khá cao, khoảng cách giữa hai dấu gạch ngang trong hình thể hiện độ rộng vùng cấm có giá trị khoảng 3. Vùng hóa trị có thể được xác định trong khoảng -5 ÷ 0 eV, vùng này tương ứng với obital 2p của O đóng góp vào cấu trúc của vùng năng lượng, tận cùng vùng hóa trị khoảng 20 eV được giới hạn bởi obital 2s của O, vùng này không đóng góp mật độ electron dẫn trong vùng dẫn [4].7: Cấu trúc vùng năng lượng của ZnO Từ độ rộng vùng cấm, bước sóng mà vật liệu hấp thụ từ phổ truyền qua có thể được tính theo phương trình Eg = 1.24/λ (µm), suy ra, bước sóng mà vật liệu hấp thụ được có giá trị nằm trong khoảng 370 ÷ 380 nm.
Ngoài ra, ta có thể thấy rằng vật liệu ZnO phát xạ mạnh ở vùng tử ngoại [4].3 Ứng dụng của ZnO ZnO là chất bán dẫn thuộc loại BIIAVI, có vùng cấm rộng ở nhiệt độ phòng (3.27 eV), chuyển dời điện tử thẳng, năng lượng liên kết exiton tự do lớn (cỡ 60 meV). So với các chất bán dẫn khác, ZnO tổ hợp có nhiều tính chất quý báu, bao gồm tính chất điện, tính chất quang, bền vững với môi trường hydro, tương thích với các ứng dụng trong môi trường chân không. Ngoài ra, ZnO còn là chất dẫn nhiệt tốt với tính chất nhiệt ổn định.