CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG KHỐI LỚN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ THÀNH PHẦN BÊ TÔNG KHỐI LỚN 1. Tổng quan về bê tông khối lớn 1. Định nghĩa bê tông khối lớn Theo tiêu chuẩn Mỹ (ACI 116R) [30], bê tông khối lớn được định nghĩa là một thể tích bê tông có kích thước đủ lớn, để phải yêu cầu có biện pháp đối phó với sự phát nhiệt do xi măng thủy hóa và sự biến đổi thể tích kèm theo để giảm thiểu sự nứt nẻ. Theo tài liệu (ACI 211.
Theo tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 4453 - 95 [14] và TCVN 8218: 2009 [28], bê tông khối lớn có kích thước nhỏ nhất không nhỏ hơn 1m. Có hai loại bê tông thường dùng làm bê tông khối lớn, chủ yếu dùng cho đập: - Bê tông thông thường (ký hiệu là CVC) được đầm chặt bằng phương pháp chấn động. - Bê tông đầm lăn (ký hiệu là RCC) là loại bê tông sử dụng các nguyên liệu tương tự bê tông thông thường, nhưng rất khô và được đầm chặt bằng thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung). Việc đầm bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô với hàm lượng chất dính kết nhỏ hơn trong bê tông thường rất nhiều.
Trong chất dính kết chỉ có một phần là xi măng, còn một phần là phụ gia khoáng hoạt tính nghiền mịn (tro bay, hoặc puzơlan tự nhiên, xỉ hạt lò cao v. Trong khuôn khổ phần tổng quan này chỉ đề cập chủ yếu bê tông khối lớn từ bê tông thông thường (CVC) đã được ứng dụng nhiều ở Việt Nam từ trước đế nay. Trong xây dựng thủy lợi bê tông khối lớn được áp dụng cho đập, móng công trình v. Từ những năm 1930, trên thế giới phát triển mạnh bê tông khối lớn cho đập dùng các vật liệu tiên tiến, phương pháp thi công hiện đại, khống chế hiệu quả ứng suất nhiệt trong bê tông và đã xây dựng nên những công trình thế kỷ.
Ở Việt Nam đã áp dụng bê tông khối lớn từ lâu cho các đập Thác Bà, Sông Đà, Trị An, Thạch Nham, Hàm Thuận, Đa Mi và mới đây là đập Tân Giang, Lòng Sông. 1: Đập bê tông trọng lực Tân Giang (Ninh Thuận) Hình 1. 2: Đập bê tông trọng lực Lòng Sông (Bình Thuận) 1. Đặc tính của bê tông khối lớn.
Đặc tính của bê tông khối lớn là tính chất nhiệt. Phản ứng của xi măng với nước là phản ứng phát nhiệt. Bê tông là vật liệu dẫn nhiệt kém. Trong bê tông khối lớn nhiệt không phân tán được nhanh, nên nhiệt độ trong bê tông có thể rất cao, nhưng nhiệt độ mặt ngoài (nhiệt độ môi trường) lại thấp; do đó có thể phát sinh ứng suất kéo do sự biến đổi thể tích kết hợp với sự tăng và giảm nhiệt độ trong khối bê tông.
Cần phải có các biện pháp giải quyết thích hợp để hạ thấp nhiệt độ trong bê tông khối lớn, giảm ứng suất nhiệt và tránh nguy cơ nứt nẻ công trình. 5 Đối với công trình bê tông khối lớn để đồng thời đạt được chất lượng và giá thành thấp, thường phân ra 2 phần: Phần bên ngoài của khối lớn chịu tác dụng trực tiếp của môi trường và phần bên trong của khối lớn không tiếp xúc với môi trường. Ví dụ như đối với đập bê tông thủy lợi, phần bên ngoài chịu tác động của môi trường nước, yêu cầu chọn cốt liệu tốt, bê tông đặc chắc cường độ cao, chống thấm tốt để đảm bảo độ bền. Còn bê tông bên trong không chịu tác động của môi trường, nên yêu cầu chính đối với bê tông là phát nhiệt tối thiểu khi bê tông đông cứng, vì sự phân bố nhiệt không đều trong khối bê tông gây ra nứt do nhiệt.
Mác bê tông ở phần bên trong không yêu cầu cao, chỉ cần 10 hoặc 15 Mpa và độ chống thấm thấp W 2, còn mác bê tông bên ngoài thường bằng 20 hoặc 25 và mác chống thấm W 4 hoặc cao hơn. Vật liệu dùng để chế tạo bê tông khối lớn. Để đảm bảo tính ổn định của bê tông khối lớn cần chú ý chọn dùng các vật liệu thích hợp. Theo tài liệu [32], các loại xi măng dưới đây thích hợp cho bê tông khối lớn; tính chất sử dụng của các loại xi măng này được nêu trong các tiêu chuẩn Mỹ ASTM C 150 - 86 [35].
Xi măng Pooclăng của Mỹ [35] gồm loại I (loại dùng chung), loại II (loại dùng chung và đặc biệt có tính chất chống sunphát vừa và nhiệt thủy hóa vừa), loại III (loại dùng trong trường hợp mong muốn nhiệt thủy hóa thấp), loại IV (loại dùng trong trường hợp mong muốn có tính chất chống sunphát cao). Xi măng hỗn hợp của Mỹ [37]: Gồm loại P (Xi măng Pooclăng puzơlan dùng cho bê tông không yêu cầu cường độ ban đầu cao), loại IP (Xi măng pooclăng puzơlan dùng cho kết cấu bê tông thông thường), loại I (PM) (Xi măng pooclăng puzơlan cải biến), loại I (SM) (Xi măng pooclăng xỉ dùng cho kết cấu bê tông thông thường). Ở nước ta cũng sản xuất các loại xi măng pooclăng (TCVN 2682: 2009) [8], xi măng pooclăng puzơlan (TCVN 4033: 1995) [11], xi măng pooclăng xỉ hạt lò cao (TCVN 4316: 1986) [12], xi măng pooclăng hỗn hợp (TCVN 6260: 2009) [19] và cả xi măng pooclăng ít tỏa nhiệt (TCVN 6069: 2007) [18] và xi măng pooclăng hỗn hợp ít tỏa nhiệt [27] để dùng cho các công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông, xây dựng dân dụng và công nghiệp. 6 Theo tài liệu [2], xi măng ít tỏa nhiệt có lượng nhiệt phát ra khi xi măng thủy hóa (xác định theo phương pháp Tecmot) sau 3 ngày không lớn hơn 45 - 50cal/g, sau 7 ngày không lớn hơn 50 - 60cal/g.
Tiêu chuẩn về xi măng ít tỏa nhiệt [17,27] qui định XM tỏa nhiệt trung bình và tỏa nhiệt thấp có nhiệt thủy hóa lần lượt là 60, 70 cal/g. Xi măng belit cao phát nhiệt ở tuổi tương ứng ít hơn 20% so với xi măng pooclăng thông thường, độ tăng nhiệt độ đoạn nhiệt của nó chỉ bằng một nửa xi măng pooclăng và píc nhiệt độ ( nhiệt độ cao nhất) cũng xuất hiện chậm hơn. Trong bê tông khối lớn thường dùng phụ gia khoáng hoạt tính như puzơlan, xỉ hạt lò cao, tro bay…, nhằm mục đích giảm thiểu lượng dùng xi măng, do đó giảm nhiệt thủy hóa trong bê tông. Tuy nhiên có một số phụ gia có thể làm giảm độ lưu thông trong hỗn hợp bê tông và tăng độ co ngót của bê tông.
Các phụ gia đó được đưa trước vào xi măng hoặc bê tông khi trộn. Trong bê tông khối lớn thường dùng phụ gia khoáng kèm thêm phụ gia hóa học như phụ gia hóa dẻo kéo dài thời gian đông kết để làm chậm tốc độ tăng nhiệt trong bê tông khối lớn.1R - 87 [32], cốt liệu dùng cho bê tông khối lớn chứa các thành phần có hại và hạt mịn không được vượt quá hàm lượng cho phép được nêu trong bảng 1. a) Cốt liệu nhỏ (cát) Có thể dùng cát tự nhiên (cát sông, cát suối…) và cát nghiền từ đá. Trong trường hợp cát nghiên, phần hạt lọt sàng N0200 chủ yếu là bột đá, không phải là đất sét hoặc diệp thạch như trong cát tự nhiên.
Vì vậy đối với cát nghiền, hàm lượng này cho phép tới 5% đối với bê tông chịu mài mòn và 7% đối với các loại bê tông khác. Yêu cầu kỹ thuật của cát cũng được qui định trong tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7570:2006) [20]. Cũng theo tài liệu Mỹ, cốt liệu nhỏ (cát) dùng cho bê tông khối lớn nói chung hầu hết lọt qua sàng 4,76mm và thành phần hạt như trong bảng 1. 1: Quy định về hàm lượng tạp chất trong cốt liệu.
Hàm lượng cho phép Các tạp chất có hại trong cốt liệu % 1. Đất sét cục và các hạt dễ vỡ 3,0 2. Hạt lọt qua sàng N0200 (75µm) - Đối với bê tông chịu mài mòn 3,0 - Đối với các loại bê tông khác 5,0 3. Than và than non - Khi quan tâm đến hình thức mặt ngoài của bê 0,5 tông - Cho tất cả các loại bê tông khác 1,0 Bảng 1.
2: Thành phần hạt của cát dùng cho bê tông khối lớn Sàng % sót riêng (mắt sàng) (theo khối lượng) (10 mm) 0 N0-4 (4,76mm) 0-5 N0-8 (2,50mm) 5-15 N0-16 (1,25mm) 10-25 N0-30 (0,36mm) 10-30 N0-50 (0,315mm) 15-35 N0-100 (0,16mm) 12-20 Đáy 3-7 Ghi chú: Số trong dấu ngoặc là các sàng Việt Nam có kích thước tương đương với sàng Mỹ. 8 Tuy nhiên theo tiêu chuẩn Mỹ nếu thông qua thí nghiệm, thấy rằng thành phần cát khác với bảng 1.2, nhưng cũng chứng tỏ đạt yêu cầu, thì vẫn dùng được. Trong tài liệu của Mỹ cũng qui định các tạp chất có hại trong cát dùng trong bê tông khối lớn dùng cho đập không vượt quá các giới hạn như sau: − Vật liệu lọt sàng N0200 không lớn hơn 30%; − Vật liệu nhẹ không lớn hơn 2%; − Đất sét cục không lớn hơn 10%; − Tổng lượng các chất có hại khác (như mica, hạt có màng bao bọc, các hạt dài dẹt, mềm, đất mùn …) không lớn hơn 2%. Thành phần hạt của cát trong bê tông khối lớn dùng cho đập được quy định trong bảng 1.
3: Thành phần hạt của cát dùng cho đập bê tông khối lớn. % sót riêng % sót tích lũy Loại sàng % lọt sàng (theo khối lượng) (theo khối lượng) 9,53 mm 0 0 0 N0-4 (4,76mm) 0-8 0-8 100-92 N0-8 (2,36mm) 5-20 10-25 90-75 N0-16 (1,19mm) 10-25 30-50 70-50 N0-30 (0,60mm) 10-30 60-65 50-35 N0-50 (0,30mm) 15-30 70-83 30-17 N0-100 (0,15mm) 12-20 90-97 10-3 Đáy 3-10 100 0 Ghi chú: % lượng lọt sàng = 100 - % lượng sót tích lũy b) Cốt liệu lớn (đá) Yêu cầu kỹ thuật đối với cốt liệu lớn được qui định trong TCVN 7570:2006 [20] và theo tài liệu [32]. Cốt liệu lớn có thể là sỏi, cuội nghiền, đá dăm hoặc hỗn 9 hợp của các loại đá đó. Về danh nghĩa hạt cốt liệu lớn phải sót trên sàng 4,75mm và nhỏ hơn 150mm.
Có thể dùng cốt liệu lớn có kích thước danh nghĩa lớn nhất (D max ) bằng 38mm hoặc 75mm, thậm chí đến 150mm. Kích thước đá càng lớn, càng có khả năng giảm lượng dùng xi măng trong bê tông và từ đó giảm lượng nhiệt thủy hóa. Tuy nhiên kích thước danh nghĩa lớn nhất của đá không được lớn hơn 1/4 kích thước nhỏ của kết cấu. Điều này thường không xảy ra đối với bê tông khối lớn.
Ngoài ra D max cũng không lớn hơn 2/3 khoảng cách giữa các thanh cốt thép. Hàm lượng tạp chất và hạt mịn (lọt sàng N0200) của cốt liệu được qui định như trong bảng 1. 4: Hàm lượng tạp chất trong cốt liệu lớn.