CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIA CỐ ĐẤT YẾU BẰNG TRỤ ĐẤT XI MĂNG 1.1 Khái niệm Đất trộn xi măng là kỹ thuật gia cố xử lý nền đất yếu bằng cách trộn cơ học đất tại chỗ với xi măng để hình thành một loại vật liệu mới. Xi măng đất hay soilcrete có các đặc trưng cơ - lý - hóa tốt hơn đất tại chỗ hay đất tự nhiên trước khi trộn với xi măng. Các đặc trưng cơ lý cơ bản của soilcrete như cường độ (qu) và mô đun đàn hồi cát tuyến hay độ cứng (E50) cao hơn đất tự nhiên từ 5 – 1000 lần biến dạng lúc phá hoại (Ɛf) nhỏ, và hệ số thấm (Ks) thấp hơn đất tự nhiên từ 10-104 lần (Trần Nguyễn Việt Hùng 2106, Kitazume & Terashi 2013, FHWA 2013, EuroSoftStab 2002). Vì vậy, trụ đất trộn xi măng có thể được ứng dụng để tăng sức chịu tải của đất nền, giảm biến dạng lún và chuyển vị ngang, và ngăn thầm hay rò rỉ của các chất lỏng trong đất có nguy cơ gây ô nhiễm mực nước ngẩm.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của trụ đất xi măng Theo 22TCN 262:2000 và TCXD 245:2000, đất yếu là đất ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của chúng gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn, lực dính C theo cắt quả cắt nhanh không thoát nước từ 0,15 daN/cm2 trở xuống, góc nội ma sát từ 0o đến 10o hoặc lực dính từ kết quả cắt hiện trường Cu 0,35 daN/cm2.
Nói chung đất sét yếu là loại đất có sức chịu tải thấp và tính nén lún cao. Phần lớn các nước trên thế giới định nghĩa đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước, Su và trị số xuyên tiêu chuẩn, N như sau: + Đất rất yếu: Su 12,5 kPa hoặc N 2. + Đất yếu: Su 25 kPa hoặc N 4. Ngoại trừ lớp trên bề mặt có bề dày khoảng 0,5 đến 3,0m đã được cải tạo, thổ nhưỡng hay thổ cư hóa v.v…[2] [4] [5] Trụ đất xi măng là kỹ thuật sử dụng xi măng làm chất kết dính, có hoặc không có chất phụ gia trộn với đất tại chỗ theo chiều sâu (chiều sâu xử lý 3m) để tạo ra vật liệu đất xi măng (hay soicrete) có các tính chất kỹ thuật được cải thiện đáng kể so với đất nguyên dạng.
5 Đất trộn xi măng được nghiên cứu lần đầu ở Mỹ trong những năm 1950 bởi công ty Intrusion-Preakt với công nghệ trộn tại chỗ (MIP-Mixed in Place) (Broomhead and Jasperce 1999). Công nghệ này lại được ngiên cứu, phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản và Bắc Âu vào giữa những năm 1970 (Terzashi 1997, Bruce 2011). Cho đến cuối những năm 1980, công nghệ trộn sâu (DMM-Depp Mixing Method) chủ yếu chỉ mới được phát triển và ứng dụng ở Nhật Bản và các nước Bắc Âu. Đến những năm 1990, DMM trở nên phổ biến và lan rộng khắp các nước Châu Âu, Châu Á và Mỹ.
[19] Cuối năm 1970 đến đầu năm 1980, viện nghiên cứu các công trình công cộng (PWRI-Public Works Research Institute) thuộc Bộ Xây dựng Nhật Bản bắt đầu phát triển thành công công nghệ DJM (Dry Jet Mixing) sử dụng bột xi măng hoặc bột vôi làm chất kết dính để gia cố nền (Public Works Research Center 2004 nguồn từ Kitazume & Terzashi 2013), Theo thống kê của Kitazume & Terzashi (2013) từ năm 1977 đến năm 2010, lượng đất gia cố xi măng ở Nhật bằng phương pháp trộn ướt khoảng 72,3 triệu m3 và phương pháp trộn khô khoảng 32,1 triệu m3, cho các dự án ngoài biển, cửa biển và cửa sông lớn với khoảng 300 dự án. Hiện nay hàng năm thi công khoảng 2 triệu m3. Năm 1975, công nghệ đất trộn vôi (Lime Column Method) được ứng dụng thực tế để gia cường hố đào và ổn định đường đắp cao cho một số công trình ở gần Stockholm, Thụy Điển. Năm 1990, Phần Lan phát triển thiết bị trộn mới có thể tạo được trụ đất trộn vôi hay xi măng đạt độ sâu hơn 20m với đường kính 0,8m (Bruce 2011) và được ứng dụng phổ biến để gia cố nền.
Năm 1987, từ kết quả nghiên cứu của Cục đường Bộ và đường Sắt quốc gia Pháp tài trợ cho công ty Bachy (Pháp) ứng dụng và phát triển quy trình Colmix, trong đó việc thi công trộn và đầm chặt đất xi măng được thực hiện bằng cách đảo ngược chiều của máy khoan trong khi rút lên. 6 Năm 1970 đến 1978 tại Trung Quốc, thiết bị trộn sâu đất trộn xi măng được ứng dụng xử lý đất nền các khu công nghiệp ở Thượng Hải (Bruce 2011, Nguyễn Viết Trung và Vũ Minh Tuấn 2010) [7] Năm 1996, lần đầu tiên tại Mỹ công ty Stabilator-USA inc, New York đã sử dụng cọc đất - vôi - xi măng trong thực tiễn. Tại Việt Nam, công nghệ đất trộn xi măng được nghiên cứu lần đầu tiên dưới sự hỗ trợ của Viện Địa kỹ thuật Thụy Điển (SGI) từ những năm 1980. Đề tài kết thúc năm 1986 và thiết bị được chuyển giao cho Tổng Công ty Xây dựng và Phát triển hạ tầng LICOGI (Nguyễn Viết Trung và Vũ Minh Tuấn 2010) Năm 2000, SCM được áp dụng gia cố nền đất yếu cho công trình cảng Ba Ngòi (Khánh Hòa) và xử lý nền móng bể xăng dầu có đường kính 21m, cao 9m (dung tích 3000m3/bể) của công trình Tổng kho xăng dầu Cần Thơ bằng trụ đất xi măng.
Trong đó dự án cảng Ba Ngòi đã xử lý bởi 4000m trụ đất xi măng có đường kính 0,6m, bằng phương pháp trộn khô (Nguyễn Viết Trung và Vũ Minh Tuấn 2010). Năm 2004, Viện Khoa học Thủy lợi đã tiếp nhận chuyển giao công nghệ khoan phụt cao áp (Jet-grouting) từ Nhật Bản (Nguyễn Viết Trung và Vũ Minh Tuấn 2010). Trụ đất xi măng được ứng dụng để gia cố bồn chứa xăng dầu ở Hải Phòng bằng công nghệ trộn sâu - khô với chiều sâu xử lý khoảng 20m. Công nghệ này cũng được các nhà thầu Nhật Bản ứng dụng thi công sửa chữa khuyết tật các cọc khoan nhồi dự án cầu Thanh Trì ở Hà Nội.
Hồ Chí Minh, trụ đất - xi măng đã được sử dụng trong dự án Đại lộ Đông Tây, Building Saigon Times Square. [14] Năm 2006, tiêu chuẩn TCXDVN 385:2006 – “Phương pháp gia cố nền đất yếu bằng trụ đất xi măng” được Bộ Xây dựng biên soạn và ban hành. Đến năm 2012, tiêu chuẩn TCVN 9403:2012 – “Gia cố đất nền yếu – phương pháp trụ đất xi măng” chuyển đổi từ TCXDVN 385:2006 được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành. TCVN 9403:2012 quy định những yêu cầu Kỹ thuật về khảo sát, thí nghiệm, thiết kế, thi công và thí nghiệm trụ đất xi măng dùng để xử lý gia cố nền đất yếu trong xây dựng và ổn định mái dốc.2 Nguyên tắc gia cố đất nền bằng trụ đất xi măng Vấn đề tên gọi là “Trụ”, “Cột” hay là “Trụ” thì hiện nay có hai trường phái.
Theo trường phái thứ nhất ở Châu Á (học viện kỹ thuật châu Á A.T) thì tên gọi là “trụ” xi măng đất. Theo trường phái thứ hai gồm các nước Mỹ, Nhật, Châu Âu… thì gọi là “Trụ” đất xi măng. Trụ đất xi măng được gia cố là hỗn hợp giữa đất nguyên trạng nơi gia cố với hỗn hợp xi măng được phun xuống thông qua thiết bị khoan phun. Cột gia cố tạo thành bởi hỗn hợp đất tại chỗ và chất kết dính (thông thường là vôi và xi măng).
Mũi trộn được đưa xuống đất bằng cách khoan xoay, khi tới độ sâu thiết kế, mũi trộn đảo chiều ngược lại và đồng thời rút dần lên. Trong quá trình dịch chuyển lên, hỗn hợp chất gia cố (xi măng) được phun vào nền đất bằng áp lực khí nén (đối với hỗn hợp khô) hoặc bằng bơm vữa (đối với hỗn hợp ướt) ở đầu mũi trộn, tới cao độ đầu cột thì dừng lại.1 Công nghệ thi công trụ đất xi măng Việc hình thành cường độ xảy ra thông qua quá trình ninh kết của hỗn hợp đất xi măng. Khi xi măng được trộn với đất, xi măng phản ứng với nước tạo ra Canxi hyđrôxit Ca(OH)2 từ đó kết hợp với đất nền tạo ra keo ninh kết CSH, đây là quá trình Hydrat hoá. Phản ứng này diễn ra nhanh và mạnh toả ra một nhiệt lượng lớn và giảm bớt lượng nước có trong đất gia cố.
Hợp chất Hydrat này tạo ra một hỗn hợp liên kết các thành phần hạt trong đất gia cố hình thành lên khoáng chất nền bền vững, cứng. Ximăng + H2O → Keo CSH + Ca(OH)2.3 Công nghệ thi công Hiện nay phổ biến hai công nghệ thi công trụ đất-ximăng là: Công nghệ trộn khô (Dry Jet Mixing) và Công nghệ trộn ướt (Wet Mixing hay còn gọi là Jet- grouting). Trong phương pháp trộn khô, không khí dùng để dẫn xi măng bột vào đất (độ ẩm của đất cần phải không nhỏ hơn 20%). Trong phương pháp trộn ướt, vữa xi măng là chất kết dính.
Trộn khô chủ yếu dùng cải thiện tính chất của đất dính, trong khi phun ướt thường dùng trong đất rời. Công nghệ thi công trộn khô (DJM) Phương pháp trộn khô đã được ứng dụng từ giữa thập niên 70 của thế kỷ trước, bắt đầu ở Thụy Điển, Phần Lan. Trong thập kỷ 80 và 90, việc ứng dụng phương pháp này đã tăng với một tốc độ lớn trong cả các nước Bắc Âu và Nhật Bản. Ở Nhật Bản, công nghệ trộn khô đã được Viện nghiên cứu kỹ thuật xây dựng của Bộ Xây dựng Nhật Bản phát triển và ứng dụng vào năm 1980.500 dự án đã được hoàn thành với tổng số thể tích ximăng đất được sản xuất vượt quá 15 triệu m3.
Công nghệ này sử dụng cần khoan có gắn các cánh cắt đất để trộn hỗn hợp khô như ximăng, chúng cắt đất sau đó trộn đất với ximăng bơm theo trục khoan. Việc hoạt động của các cần khoan làm cho ximăng trộn lẫn với đất. Theo từng loại đất mà hàm lượng ximăng có thể được điều chỉnh cho thích hợp. DJM sử dụng hệ thống giám sát tự động chất lượng cao mà cung cấp các số liệu chính xác và liên tục về chiều sâu trộn đất, độ sâu đóng trụ và tốc độ rút cần cũng như tốc độ xoay của cần khoan.
* Ưu điểm của công nghệ trộn khô: - Sử dụng thiết bị thi công đơn giản; - DJM không cần nước trong quá trình tạo vữa dung dịch. Hoạt động không có nước sẽ làm công trường sạch sẽ, giảm thiểu khối lượng phá hoại công trường; - Công nghệ này còn sử dụng một hệ thống khép kín để vận chuyển và bơm ximăng vào đất. Do đó chỉ có một lượng nhỏ được thải ra không khí.