CHƯƠNG I.1 Giới thiệu đề tài[1] Hình 1. 1: Phương pháp can thiệp mạch vành 1.1 Bệnh mạch vành Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng tim. Tuần hoàn trong động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim. Mỗi trái tim của chúng ta có hai động mạch vành: động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt trái tim.
Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1 – 3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mạch mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành. Như vậy, hệ thống động mạch vành có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong trái tim. Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từ động mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực.
NGUYỄN TƯỜNG LONG HVTH: PHẠM QUANG VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ 2 NGÀNH CƠ KỸ THUẬT Hình 1. 2: Hệ thống động mạch vành của tim Bệnh mạch vành, bệnh tim do mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ (và cả những cụm từ như suy vành, thiểu năng vành) là những cụm từ khác nhau để chỉ tình trạng động mạch vành - động mạch cấp máu nuôi dưỡng tim - bị hẹp. Hậu quả là lượng máu cung cấp cho cơ tim bị giảm sút. Nguyên nhân chủ yếu của hẹp động mạch vành là do xơ vữa động mạch.
3: Mạch máu xơ vữa GVHD: TS. NGUYỄN TƯỜNG LONG HVTH: PHẠM QUANG VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ 3 NGÀNH CƠ KỸ THUẬT 1.2 Nguyên nhân gây bệnh mạch vành Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh mạch vành nhưng các chuyên gia đều thống nhất các nguyên nhân chính là do xơ vữa động mạch, huyết khối hoặc sự lắng đọng Canxi. Khi Cholesteron trong máu cao, các hạt mỡ sẽ bám vào thành động mạch, lâu dần tạo thành một lớp mỡ, làm hẹp lòng động mạch, cản trở dòng máu tới nuôi tim. Lớp mỡ đó trong y học gọi là xơ vữa động mạch.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như: ✓ Yếu tố di truyền: Nếu bố mẹ bị bệnh mạch vành thì con dễ bị bệnh này.Có những dòng họ có rất nhiều người cùng bị bệnh mạch vành nặng. ✓ Lứa tuổi, giới tính, hút thuốc lá, Cholesterol trong máu cao, tiểu đường, cao huyết áp, béo phì, nghiện rượu bia, ít hoạt động thể lực và stress, thường căng thẳng thần kinh cũng có nhiều nguy cơ bị bệnh mạch vành.3 Các phương pháp điều trị bệnh hẹp mạch vành[2] Có hai biện pháp tái thông mạch vành bị hẹp là can thiệp mạch vành qua da (nong bóng, đặt stent) và phẫu thuật bắc cầu mạch vành. ❖ Can thiệp mạch vành qua da Can thiệp mạch vành qua da (PCI: Precutaneous Coronary Intervention), bao gồm nong mạch vành bằng bóng (PTCA: Percutaneous Transluminal Coronary Angioplasty) và đặt stent động mạch vành (CAS: Coronary Artery Stenting). PTCA được giới thiệu lần đầu tiên vào thử nghiệm lâm sàng bởi Andreas Grüntzig vào cuối những năm 1970.
Trong quá trình PTCA, một ống thông bóng nong có khả năng mở rộng được đưa vào bên trong một động mạch để tiến vào vị trí có mảng xơ vữa ban đầu hay vết thương bị tái hẹp sau điều trị, bóng nong lúc này đã được xếp và gấp cánh. Tiếp theo đó, bóng được thổi phồng bằng cách bơm áp suất để cải thiện độ mở lòng mạch và giúp dòng máu lưu thông bình thường. Tuy nhiên, quá trình này lại gây tổn thương cho mạch máu, dẫn đến độ co lại đàn hồi của thành mạch, sự tăng sinh của mô sẹo trong lòng mạch và tái cấu trúc âm tính. Các hiện tượng này thường gây ra tái hẹp, làm cho lưu lượng máu bị nghẽn trở lại và không vận chuyển đủ oxy cho các mô ở tim.
Bên cạch việc dẫn đến tái hẹp, một vấn đề nghiệm trọng khác đối với PTCA là sự sụp đổ của động mạch. Điều này có thể xảy ra ngay sau khi bóng được làm xẹp do trước đó mạch bị mở rộng quá mức, hoặc thậm chí trong thời gian hồi phục của động mạch sau khi GVHD: TS. NGUYỄN TƯỜNG LONG HVTH: PHẠM QUANG VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ 4 NGÀNH CƠ KỸ THUẬT nong. Một khi mạch bị sụp đổ, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành khẩn cấp là lựa chọn duy nhất.
Để khắc phục vấn đề trên của PTCA, kỹ thuật đặt stent động mạch vành (CAS) đã được đề nghị và phát triển. Trong CAS, một stent kim loại được xếp và cố định lên trên ống thông bóng nong, sau đó được đưa vào phân đoạn bị hẹp của động mạch bằng cách thổi phồng và làm xẹp bóng. Chức năng của stent là tạo thành một giàn đỡ để mở rộng và hỗ trợ thành mạch, qua đó làm giảm hiện tượng tái hẹp sau khi nong mạch bằng bóng. Cuối thập niên 1980, Sigwart và những người khác đã báo cáo về sự cấy ghép thành công stent kim loại trần hay stent thường (BMS: bare-metal stent) vào động mạch vành của 8 bệnh nhân.
Nhiều năm sau, với sự phát triển của một số thế hệ mới, sự chấp nhận của BMS đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc giảm tái hẹp so với chỉ dùng PTCA, đồng thời làm giảm đáng kể tỷ lệ các biến cố tim mạch chính trong bệnh viện (MACE: Major Adverse Cardiac Event) cũng như tử vong. Tuy nhiên, từ 20 đến 30% bệnh nhân cho thấy phát triển các bằng chứng lâm sàng về tái hẹp. Tái hẹp trong stent (ISR – Instent Restenosis) đã trở thành một vấn đề lâm sàng mới và rất đáng quan tâm. Để giảm ISR một cách hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển các giải pháp mới để ức chế sự tăng sinh tế bào bằng cách truyền cục bộ các chất chống tái hẹp vào động mạch bị bệnh mà được cấy ghép stent.
❖ Phẫu thuật bắc cầu mạch vành là một phẫu thuật nhằm tái thông dòng chảy mạch vành, nhờ đó cải thiện dòng máu nuôi cơ tim. Khi phẫu thuật, bác sỹ sẽ sử dụng một đoạn động mạch hoặc tĩnh mạch “lành lặn”, không bị hẹp từ chính cơ thể của bạn để nối từ động mạch chủ đến nhánh mạch vành bị hẹp. Cầu nối này sẽ đảm đương vai trò vận chuyển máu giàu oxy đến nuôi cơ tim. Trong một cuộc mổ, phẫu thuật viên có thể làm nhiều cầu nối chủ- vành cho tất cả các mạch vành bị hẹp nặng.
4: Điều trị bệnh mạch vành bằng phương pháp phẫu thuật bắc cầu động mạch. NGUYỄN TƯỜNG LONG HVTH: PHẠM QUANG VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ 5 NGÀNH CƠ KỸ THUẬT Phẫu thuật bắc cầu được sử dụng khi mạch vành không còn khả năng sửa chữa bằng các thủ thuật nong mạch PTCA. Bệnh động mạch vành (CAD - Coronary Artery Disease) Can thiệp mạch vành Bắc cầu qua da mạch vành (PCI - Percutaneous Coronary (CAPG - Coronary Arterial including Angioplasty Artery Pypass Graft) And Stenting) Bóng nong mạch STENT (PTCA - Percutaneous ( CAS - Coronary Artery Stenting) Transluminal Coronary Angioplasty) Stent trần (BMS - Bare medal stent) Stent phủ thuốc (DES - Drug-eluting stents) Stent tự tiêu (BS - Bioabsorbable stent) Hình 1. 5: Phương pháp điều trị bệnh động mạch vành 1.4 Thực trạng bệnh hẹp động mạch vành Hiện nay trên thế giới, các bệnh về tim mạch (Cardiovascular Diseases hay tên gọi khác là Heart Diseases) là nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn cầu.
Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức y tế thế giới, trong năm 2008, số lượng người chết do các vần đề tim mạch là khoảng 17.3 triệu người, chiếm 30% tổng số lượng tử vong toàn cầu (WHO – World Health Organization, 2013). Trong số các bệnh lý về tim, bệnh tim mạch vành (coronary artery diseases) là bệnh thường gặp nhất và là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh lý khác về tim về sau. Bệnh tim mạch vành là tên gọi chung cho các bệnh lý về tim do các vấn đề về động mạch vành gây ra. NGUYỄN TƯỜNG LONG HVTH: PHẠM QUANG VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ 6 NGÀNH CƠ KỸ THUẬT Còn ở Việt Nam, theo một nghiên cứu do Bộ Y tế thực hiện ở Việt Nam, bệnh tim mạch, chủ yếu là đột quỵ và bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim, chiếm một phần ba tất cả các ca tử vong và đứng đầu trong mười nguyên nhân gây tử vong.
Tuy nhiên, không có những thống kê chính xác để hiểu rõ sự phổ biến của căn bệnh này. Qua khảo sát cho thấy bệnh Tim mạch tại các thành phố lớn đang tăng nhanh đến mức báo động. Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe quốc gia cho biết con số ước lượng của sự lan rộng của bệnh tăng huyết áp hiện nay là 16.9% theo lứa tuổi từ 25-65 tuổi. Ở độ tuổi 65, hơn nữa kể cả nam và nữ đều lo ngại căn bệnh cao huyết áp.
Bên cạnh đó, họ còn nhận thấy một điều sự tăng nhanh hơn căn bệnh này ở người lớn tuổi tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh là 6.4%, thực tế cho thấy rằng các bệnh Tim Mạch này đáng lo ngại hơn đối với các người dân sinh sống tại các đô thị lớn. Từ đó cho thấy số lượng rất lớn bệnh nhân cần được thực hiện can thiệp ngày càng tăng ở Việt Nam và trên thế giới, nhưng chi phí cho một lần can thiệp lại rất cao đối với hầu hết người dân Việt Nam. Vì vậy, vấn đề giảm giá thành stent là một mục tiêu hàng đầu cho các nhà sản xuất, để thêm nhiều bệnh nhân có thể tiếp cận phương pháp điều trị này. Đây là mục tiêu luận văn hướng đến.2 Hướng nghiên cứu Dựa vào một số yêu cầu kiểm tra trong tiêu chuẩn FDA (Food and Drug Administration – Non Clinincal Engineering Tests and Recommended Labeling for Intravascular Stents and Associated Delivery Systems[3] và ISO 25539-2 Cardiovascular Implants – Endovascular devices – Part 2: Vascular Stents[4] để đánh giá tính hiệu quả của một thiết kế stent đã đề xuất bằng phương pháp giải tích, mô phỏng và kết hợp với mô hình chế tạo để thử nghiệm.
Từ đó thiết lập một quy trình trình đánh giá tính hiệu quả một thiết kế stent bằng phương pháp mô phỏng để giảm thiểu thời gian và chi phí trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.