CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Ngành công nghiệp xây dựng và bê tong đã và đang sử dụng lượng lớn nguồn tài nguyên và năng lượng. Bê tong còn là một trong các dạng vật liệu được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng và công trình giao thông hạ tầng. Trong đó, xi măng Portland đóng vai trò là chất kết dính trong việc sản xuất bê tông hiện nay. Sản lượng xi măng sản xuất trên toàn thế giới không ngừng gia tăng vào khoảng 1.5 tỷ tấn trong năm 1995 lên khoảng 2.2 tỷ tấn trong năm 20110 (Malhotra, 1999) [1].
Tuy nhiên, công nghiệp sản xuất xi măng lại là một trong các ngành tiêu thụ rất lớn nguồn tài nguyên khoáng sản (đá vôi và cốt liệu) và năng lượng (than, dầu, điện) cũng như có sự thải ra lượng khí CO2 lớn vào khí quyển. Số liệu điều tra cho thấy lượng khí thải CO2 từ công nghiệp sản xuất xi măng xấp xỉ 1.35 tấn/năm chiếm khoảng 7% lượng CO2 trên toàn thế giới (Malhotra) [2]. Theo thống kê trung bình để sản xuất ra 1 tấn xi măng đòi hỏi 4GJ nhiên liệu và sẽ thải ra 1 tấn CO2 vào khí quyển góp phần gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng dần lên (Roy 1999, Davidovits 2002) [3], [4]. Hiện nay, ở Việt Nam việc đầu tư nâng cấp xây mới các dự án xây dựng đang diễn ra mạnh mẽ là vấn đều ưu tiên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và làm cơ sở để phát triển nền kinh tế.
Bê tông xi măng truyền thống luôn là loại vật liệu chủ yếu để thi công kết cấu chính do những ưu điểm hơn về tuổi thọ, khả năng chịu lực cao và rất ổn định với nước. Tuy nhiển, chi phí đầu tư khá cao và những hệ quả trong quá trình sản và sử dụng bê tông xi măng như phân tích ở trên cần được quan tâm. Để giảm thiểu lượng khí thải CO2 và có thể tận dụng những phế phẩm sẵn có như tro bay, meta-kaoline, bùn đỏ… Từ đó công nghệ Geopolymer như là một giải pháp tối ưu nhằm thay thế bê tông xi măng truyền thống. Bê tông geopolymer từ tro bay không những hạn chế lượng khí thải CO2 mà còn tận dụng được lượng tro bay thu được trong quá trình sản xuất.
GVHD : TS LÊ ANH TUẤN HVTH : LÊ HỮU QUỐC PHONG TS NGUYỄN SỸ LÂM MSHV : 12194086 Trang 8 Lượng tro bay ở nước ta khá nhiều, hằng năm ước tính các nhà máy nhiệt điện trên cả nước thải ra khoảng 1.3 triệu tấn tro bay, đến năm 2010 sẽ là 2. Theo dự báo đến năm 2020 sẽ có thêm 28 nhà máy nhiệt điện đốt than đi vào hoạt động. Hàng loạt lò cao ở các khu gang thép sữ dụng nhiên liệu là than sẽ thải ra lượng tro bay tương đối lớn [2]. Khói, bụi, tro thải ra từ các nhà máy này làm ô nhiễm môi trường một vùng rộng lớn và ảnh hưởng nghiệm trọng đến sức khỏe con người; bởi vậy cần có giải pháp thu hồi rác thải độc hại này.
Hiện nay, Viện Khoa học Việt nam, Công ty Cổ phần Công nghiệm và Dịch vụ Cao Cường đã xây dựng nhà máy thu hồi chế biến tro bay với công suất thiết kế 8 nghìn tấn sản phẩm/năm [1]. Tuy nhiên tro bay mới được sử dụng như là phụ gia trong xi măng, bê tông chiếm tỷ lệ không lớn (10-30%). Việc sử dụng bê tông Geopolymer trên cơ sở chất kế dính tro bay kiềm hoạt hóa có khả năng góp phần giảm hiện tượng nóng dần của trái đất. Bên cạnh đó còn tận dụng được nguồn phế thải của quá trình sản xuất công nghiệp như tro bay của nhà máy nhiệt điện, xỉ lò cao của nhà máy luyện gang thép…Do đó, việc sử dụng bê tông Geoplymer trong công nghệp xây dựng còn mang lại nhiều lợi ích như giảm nguy cơ chất thải công nghiệp và diện tích bải chứa chất thải, cải thiện đặc tính lâu dài của bê tông (co ngót khô thấp, từ biến thấp, khả năng chống ăn mòn sunphat và axit rất tốt), từ đó giảm chi phí đầu tư và bảo trì các kết cấu sử dụng bê tông Geopolymer… Về mặt kinh tế, giá thành của 1 tấn tro bay chỉ bằng một phần nhỏ so với giá 1 tấn xi măng.
Vì vậy sau khi tính cả giá của dung dịch kiềm hoạt hóa thì giá bê tong Geopolymer sử dụng tro bay thấp hơn khoảng 10-30% so với giá của bê tông xi măng. Vì thế, vật liệu Geopolymer là vật liệu cần thiết để thay thế vật liệu truyền thống. GVHD : TS LÊ ANH TUẤN HVTH : LÊ HỮU QUỐC PHONG TS NGUYỄN SỸ LÂM MSHV : 12194086 Trang 9 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BÊ TÔNG GEOPOLYMER TRÊN THẾ GIỚI Bê tông Geopolymer là loại bê tông không sử dụng xi măng Portland thông thường mà là sản phẩm của phản ứng giữa dung dịch kiềm và các loại vật liệu có chứa hàm lượng lớn hợp chất silic và nhôm. Chất kết dính cũng có thể gọi là chất kết dính kiềm hoạt hóa.
Ngành Công nghệ vật liệu Geopolymer ra đời từ những năm 1960, nhưng được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn từ những năm 1972 đến nay. Hiện tại đã có rất nhiều bằng sang chế, nghiên cứu và ứng dụng Geopolymer vào các ngành công nghệ vật liệu hiện đại (vật liệu cách nhiệt, vật liệu chống cháy chất kế dính vô cơ, công nghệ xử lý chất thải…) được giới thiệu và ứng dụng trên toàn thế giới. Khởi đầu bằng việc viện Geopolymer được thành lập tại Pháp năm 1972, Xuất phát từ ý tưởng tìm ra vật liệu vô cơ có khả năng chống cháy và chịu được nhiệt độ cao, Joseph Davidovits đã phát hiện ra hệ nguyên liệu bao gồm đất sét, cao lanh có thể tương tác với kiềm NaOH ở 100-1500C để tạo ra hợp chất mới là Hydrosodialite: Si2O5,Al2(OH)4 + NaOH => Na(-Si-O-Al-O)n Kaolinite Hydrosodalite Điều này là tiền đề cho việc nghiên cứu và phát triển của công nghệ vật liệu tổng hợp Geopolymer đến sau này. Trên cơ sở lý thuyết Geopolyer của Joseph Davidovits, Lone Star (Một công ty sản xuất xi măng hàng đầu của Mỹ) đã nghiên cứu và chế tạo thành công một loại xi măng mới bằng cách kết hợp nguyên liệu sét và dung dịch kiềm hoạt tính cao, tạo thành chất kết dính vô cơ mới có khả năng đóng rắn nhanh và cho cường độ ban đầu rất tốt với tên gọi xi măng polymer.
Công nghệ này nhanh chống được phát triển trên toàn thế giới và đang dần dần có ưu thế hơn xi măng protland do có ưu điểm về nguyên liệu sản xuất và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường [5]. Một nghiên cứu khác về xi măng geopolymer (High-alkali-poly) đã cho thấy ứng dụng trong nhiều ngành kỹ thuật như : hàng không xây dựng, công nghiệp chất dẻo, kim GVHD : TS LÊ ANH TUẤN HVTH : LÊ HỮU QUỐC PHONG TS NGUYỄN SỸ LÂM MSHV : 12194086 Trang 10 loại… Kết quả nghiên cứu cho thất xi măng mới này đóng rắn nhanh với nhiệt độ phòng, cường độ chịu nén có thể đạt tới 20MPa sau 4 giờ ở nhiệt độ 2000C và có thể đạt từ 70-100MPa sau khi bảo dưỡng 28 ngày [6]. Lần đầu tiên xuất bản năm 2008, Geopolymer chemistry and application đã khái quát toàn bộ kiến thức về công nghệ Geopolymer [7]. Các ứng dụng của công nghệ này đã được nghiên cứu và phát triển rộng rãi trên toàn thế giới.
Nghiên cứu đã tập trung vào thành phần và nồng độ của dung dịch kiềm để thúc đẩy nhanh quá trình geopolymer hóa. Thuật ngữ “Geopolymer” được giới thiệu lần đầu tiên bởi GS.TS Davidovits vào năm 1978 để mô tả họ chất kết dính với thành phần hóa học tương tự với zeolite nhưng có vi cấu trúc vô định hình [3]. Ông cũng đồng thời đưa thuật ngữ “poly(sialate)” cho thiết kế hóa học của geopolymer dựa trên siloco-aluminate (Davidovits, 1988a, 1988b, 1991; van Jaarsveld et., 2002a); Sialate là từ viết tắt của silicon-oxo-aluminate.wH2O Với “z” là 1,2 hoặc 3; M là kim loại kiềm hoặc kiềm thổ hóa trị đơn chẳng hạn như potassium (KOH) hoặc sodium (NaOH) và “n” là độ ngưng tụ hay ức độ polymer hóa (Davidovits, 1984, 1988b, 1994b, 1999). Cấu trúc của các loại polysialate này được minh họa như hình 2.1 : GVHD : TS LÊ ANH TUẤN HVTH : LÊ HỮU QUỐC PHONG TS NGUYỄN SỸ LÂM MSHV : 12194086 Trang 11 Hình 1.1 : Cấu trúc hóa học của các polysialate Từ những tiền đề trên, Geopolymer được xem như là một loai vật liệu xanh và được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghệ và xây dựng.
Bê tông Geopolymer được xem như một loại vật liệu thể hiện các đặc tính cơ lý có thể thay thế được bê tông xi măng truyền thống. Và từ đó, hang loạt những nghiên cứu về tính chất cơ lý của bê tông Geopolymer đã được thực hiện. Palomo, Grutzeck, and Blanco (1999) [8], nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ dưỡng hộ, thời gian dưỡng hộ và tỉ lệ dung dịch alkali/tro bay đến cường độ cho thấy rằng cả thời gian và nhiệt độ dưỡng hộ đều ảnh hưởng đến cường độ bê tông. Việc kết hợp giữa Sodium hydroxide (NaOH) và Sodium silicate (Na2SiO3) tạo nên cường độ cao nhất đến 60MPa khi gia nhiệt ở 850C kéo dài trong 5 giờ.
Van Jaarsveld, van Deventer and Lukey (2002) [9] nghiên cứn về Những đặc tính của Geopolymer ảnh hưởng bởi sự hòa tan không hoàn toàn của những vật liệu phức tạp trong quá trình Geopolymer hóa cho rằng hàm lượng nước, thời gian và nhiệt độ dưỡng hộ ảnh hưởng đến đặc tính của Geopolymer, đặc biệt là diều kiện dưỡng hộ và nhiệt độ gia nhiệt ảnh hưởng đến cường độ. Khi gia nhiệt ở 700C trong 24 giờ, cường độ được gia tăng đáng kể. Thời gian dưỡng hộ càng dài, cường độ của Geopolymer càng tăng. Qua những kết quả trong nghiên cứu về Những yếu tố ảnh hưởng đến cường độ bê tông Geopolymer sử dụng tro bay [10] của D.Hardjito (2004) thấy rằng thời gian GVHD : TS LÊ ANH TUẤN HVTH : LÊ HỮU QUỐC PHONG TS NGUYỄN SỸ LÂM MSHV : 12194086 Trang 12 dưỡng hộ dài sẽ phát triển quá trình polymer hóa trong bê tông, cường độ chịu nén không bị ảnh hưởng bởi ngày tuổi của bê tông.Rangan (2005), khi nghiên cứu về Quá trình phát triển và những đặc tính của bê tông geopolymer sử dụng tro bay [11] đã có những nhận xét về những tính chất ảnh hưởng đến cường độ của bê tông geopolymer như sau : Nồng độ Mol của dung dịch NaOH càng cao dẫn đến cường độ tăng.
Tỷ lệ thủy tinh lỏng/dung dịch NaOH tăng thì cường độ cũng tăng theo. Nhiệt độ dưỡng hộ tang trong khoảng từ 300C đến 900C, cường độ của bê tông geopolymer cũng tăng.