chương 1 Trong tình hình các đập hồ chứa vừa và nhỏ, được xây dựng và đưa vào sử dụng được khoảng 30 – 50 năm đang xuống cấp. Nhu cầu sửa chữa, nâng cấp hồ đập nói chung và cống ngầm nói riêng là rất lớn. Thi công sửa chữa, nâng cấp, xây mới các cống ngầm dưới thân đập, đặc biệt là tháp van cống ngầm theo phương pháp thi công bê tông cốt thép truyền thống gặp một số khó khăn. Do vậy nếu giải pháp kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước lắp ghép áp dụng cho tháp van cống ngầm thành công sẽ là một phương án để giải quyết những tồn tại trong việc thi công tháp van cống theo công nghệ thi công bê tông cốt thép truyền thống với những dự án sửa chữa, nâng cấp cống ngầm dưới thân đập 13 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN KẾT CẤU BÊ TÔNG CỐT THÉP ỨNG SUẤT TRƯỚC 2.
Khái quát về kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước và tình hình nghiên cứu, ứng dụng kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước ở Việt Nam 2. Khái quát về kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước Bê tông là vật liệu có tính giòn, cường độ chịu kéo kém hơn nhiều so với cường độ chịu nén. Để khắc phục nhược điểm này của vật liệu bê tông người ta đưa những thanh thép có cường độ chịu kéo tốt hơn vào vùng chịu kéo trong khối bê tông. Từ đó hình thành nên vật liệu bê tông cốt thép.
Tuy nhiên với vật liệu bê tông cốt thép, các vết nứt trong khối bê tông vẫn xuất hiện khá sớm ngay cả khi ứng suất kéo còn khá nhỏ. Các vết nứt này làm giảm chiều cao làm việc, mô đun chống uốn của kết cấu. Ngoài ra các vết nứt xuất hiện sẽ làm cho cốt thép trong khối bê tông tăng nguy cơ bị xâm thực, bị gỉ, đặc biệt trong những môi trường có tính xâm thực, dần dần làm cho kết cấu bị phá hoại. Trong các công trình thủy lợi, thì ngoài điều kiện chịu lực của kết cấu, người thiết kế còn phải đặt ra vấn đề chiều dày của kết cấu phải lớn hơn một giá trị giới hạn để Gradient của dòng thấm không xuyên thủng kết cấu; vết nứt nếu có xuất hiện cũng phải khống chế độ mở nhất định để cốt thép trong khối bê tông không bị hoen gỉ, xâm thực.
Để khắc phục nhược điểm của kết cấu bê tông cốt thép thông thường, trước khi đưa kết cấu bê tông cốt thép vào sử dụng, người ta tạo ra một ứng suất nén ban đầu trong kết cấu để sau khi chịu tải trọng, kết cấu này sẽ làm triệt tiêu một phần hoặc toàn bộ ứng suất kéo trong kết cấu, nhờ đó loại trừ khả năng xuất hiện vết nứt. Kết cấu này được gọi là kết cấu bê tông ứng suất trước hay bê tông dự ứng lực, bê tông tiền chế. Ngày nay, kết cấu bê tông ứng suất trước ngày càng được ứng dụng nhiều trên thế giới và ở Việt Nam vì kết cấu này có một số ưu điểm so với kết cấu bê tông cốt thép thông thường [10]: - Kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước có khả năng chống uốn, độ cứng lớn hơn so với kết cấu bê tông cốt thép thông thường cùng kích thước, vì thế có thể hạn chế được độ võng, cho phép chế tạo các kết cấu có nhịp lớn hơn; - Kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước sử dụng bê tông cường độ cao và cốt thép cường độ cao nên có thể làm cấu kiện mảnh và nhẹ hơn so với cấu kiện bê tông 14 cốt thép thông thường. Do việc giảm trọng lượng bản thân sẽ giảm bớt tải trọng thiết kế và chi phí móng.
- Ứng suất nén ban đầu trong kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước làm cho sau khi đưa vào sử dụng ứng suất nén chính trong kết cấu được giảm nhỏ, nhờ đó mà khả năng chịu cắt cao hơn, hạn chế được sự hình thành và phát triển vết nứt so với kết cấu bê tông cốt thép thông thường; - Do kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước hạn chế được nứt nên khả năng chống thấm, chống xâm thực, tuổi thọ cao hơn; - Công trình sử dụng kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước có khả năng chịu lửa, độ bền mỏi cao; - Kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước đặc biệt là những cấu kiện được sản xuất trong nhà mày thì việc kiểm soát về chất lượng dễ dàng hơn. Bên cạnh những ưu điểm trên kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước cũng tồn tại một số hạn chế: - Để thi công kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước đòi hỏi phải có các vật liệu thiết bị chuyên dụng như neo, ống gen, vữa bơm… (với kết cấu bê tông ứng suất trước căng sau) hay bộ neo công cụ, bệ căng…(với kết cấu bê tông ứng suất trước căng trước) - Nhân công thi công kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước đòi hỏi có trình độ cao hơn so vơi công nhân thi công thông thường. - Công tác kiểm soát chất lượng đối với kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước đòi hỏi cao hơn kết cấu thông thường. Ngoài ra việc tạo ứng suất ban đầu có thể làm cấu kiện bê tông cốt thép ứng suất trước bị phá hoại cục bộ tại một số vùng.
Hiện nay có một số cách phân loại kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước sau: Theo cách thời điểm tạo ra ứng suất trước, kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước phân thành hai loại là bê tông ứng suất trước căng trước và bê tông ứng suất trước căng sau. Để tạo ứng suất ban đầu trong kết cấu bê tông ứng suất trước căng trước, người ta tiến hành căng cốt thép trước khi đổ bê tông. Sau khi bê tông đạt đến cường độ thích hợp thì buông cốt thép căng, do tính đàn hồi của cốt thép cốt thép sẽ co lại và truyền lực nén lên kết cấu bê tông xung quanh tạo ra ứng suất nén ban đầu trong kết cấu. Phương pháp tạo ứng suất trước căng trước này đòi hỏi khi thi công phải có các bệ đỡ để neo tạm các thiết bị căng.
Vì thế mà phương pháp căng trước thường được áp dụng để sản xuất các cấu kiện bê tông ứng suất trước căng trước đúc sẵn trong nhà máy. 15 Ngược lại với kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước căng trước, kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước căng sau được tạo ra bằng cách căng cốt thép sau khi bê tông đã đạt đến cường độ nhất định rồi tiến hành neo giữ hai đầu cốt thép căng. Phương pháp thi công ứng suất trước căng sau được áp dụng nhiều trên công trường, hình thức thi công lắp ghép. Theo khả năng bám dính giữa bê tông và cốt thép căng, kết cấu bê tông ứng suất trước được phân thành hai loại là có bám dính và không bám dính.
Theo phương pháp tạo ra kết cấu bê tông ứng suất trước căng trước thì kết cấu này thuộc loại có bám dính. Với kết cấu bê tông ứng suất trước căng sau, thép căng được đặt trong các ống chôn sẵn hoặc các lỗ tạo sẵn trong khối bê tông. Vì vậy kết cấu bê tông cốt thép căng sau có thể thuộc loại có bám dính hoặc không bám dính. Kết cấu căng sau có bám dính, cốt thép căng sau khi được neo giữ, vữa bê tông được bơm vào trong ống, lỗ tạo sẵn.
Vữa bê tông bơm vào vừa có tác dụng bảo vệ cốt thép căng vừa góp phần dính kết giữa bê tông và cốt thép căng. Ngược lại bê tông cốt thép ứng suất trước căng sau không bám dính có thể được bố trí thành từng bó trong các ống và được liên kết với khối bê tông tại vị trí neo giữ, cốt thép căng có thể trượt tự do trong các ống chôn sẵn. Theo khả năng triệt tiêu ứng suất kéo trong các giai đoạn chịu lực, các giai đoạn làm việc của kết cấu mà kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước chia thành hai loại là kết cấu ứng suất trước toàn phần và kết cấu ứng suất trước một phần. Trong kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước một phần, trong một số giai đoạn làm việc, trong kết cấu vẫn còn ứng suất kéo.
Do đó để kết cấu có thể chụ được ứng suất kéo này thì ngoài thép căng còn cần có thép không căng để chịu lực. Ngoài ra, theo cách bố trí cốt thép căng và cách căng cốt thép để tạo ứng suất ban đầu, kết cấu bê tông ứng suất trước còn chia thành kết cấu ứng suất trước căng trong tiết diện và kết cấu ứng suất trước căng ngoài tiết diện. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng kết cấu bê tông ứng suất trước trên thế giới Việc áp dụng nguyên lý ứng suất trước vào kết cấu bê tông bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỉ thứ XIX.Jackson (Mỹ) đã nhận được chứng nhận bản quyền về việc sử dụng cốt thép căng để làm vòm bê tông. Năm 1888, Dorhing(Đức) nhận được chứng nhận bản quyền về việc đặt thêm sợi thép căng vào bê tông để đúc thành tấm và dầm.
Đó là những bước đi đầu tiên của việc sử dụng nguyên lý ứng suất trước chế tạo cấu kiện bê tông đúc sẵn.[10] 16 Khái niệm dùng ứng suất trước để triệt tiêu ứng suất kéo trong bê tông do ngoại tải gây ra là do J.Mandl (Áo) đề suất đầu tiên vào năm 1896.Koenen (Đức) tiến hành thí nghiệm đổ bê tông với cốt thép có giới hạn bền 160MPa, quan sát thí nghiệm ông nhận thấy hiện tượng nén trước ban đầu bị mất đi do bê tông co ngót.Steiner(Mỹ) đề xuất việc kéo căng 2 lần để giảm bớt tổn hao ứng suất trước và đã nhận được chứng nhận bản quyền.Emperger (Áo) đã sang tạo ra phương pháp quấn dây thép căng để làm ống bê tông chịu áp lực. Dây thép căng sử dụng loại có cường độ từ 160 MPa đến 800MPa. Công nghệ ứng suất căng sau không bám dính được R.Dill (Mỹ) đề suất vào năm 1925. Ông sử dụng cốt thép cường độ cao có phủ ngoài chất chống dính, sau khi bê tông đóng rắn thì tiến hành kéo căng và dùng êcu chốt cố định ở hai đầu.Farber (Mỹ) ) nhận được chứng nhận bản quyền về phương pháp ứng suất trước có cốt thép căng có thể trượt trong bê tông.
Lúc đó, phương pháp chống bám dính giữa bê tông và cốt thép căng là phủ lên bề mặt cốt thép một lớp bột đá hoặc là đặt cốt thép căng vào trong ống cứng.