Đặt vấn đề Dự kiến vào năm 2050, nhu cầu tiêu thụ thịt trên thế giới sẽ tăng gấp đôi so với hiện tại. Dân số thế giới ngày càng tăng, các nước đang phát triển cũng có những bước đột phá về kinh tế đã dẫn đến việc người tiêu dùng có nhu cầu tiêu thụ thịt nhiều hơn, điều này đồng nghĩa với sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu tiêu thụ thịt trên toàn cầu [1 ]. Việc tiêu thụ quá nhiều thịt và các sản phẩm từ thịt sẽ dẫn đến việc dung nạp quá nhiều năng lượng và chất béo, làm tăng nguy cơ thừa cằn, béo phì cũng như tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính, trong đó có thể kể đến như bệnh tim [2]. Việc sản xuất thịt từ thực vật trên quy mô rộng trong tương lai hoàn toàn sẽ giúp giải quyết được các vấn đề đạo đức, về môi trường và sức khỏe cộng đồng [3].
Ngoài ra, việc lựa chọn thịt có nguồn gốc từ thực vật có liên quan đến nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích của việc sử dụng thịt thực vật. Trong đó có thế kể đến như việc giảm huyết áp, giảm lipid máu từ đó có lợi trong việc kiểm soát cân nặng cũng như giảm được các nguy cơ mắc các hội chứng chuyển hóa và bệnh tiểu đường loại 2. Thịt thực vật cũng đã được chứng minh là một trong những loại thực phẩm có độ hiệu quả cao trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường. Như vậy, nếu mong muốn việc ngăn ngừa và giảm các bệnh lý hiệu quả, người tiêu dùng cần được khuyến khích sử dụng thịt thực vật trong trong chế độ ăn uống [4].
Xác đậu nành là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất đậu phụ hoặc sữa đậu nành, tuy nhiên chúng ta đã bỏ qua giá trị sử dụng của nó. Trong loại phụ phẩm bị coi là bỏ đi lại có chứa khoảng 50% chất xơ, 25% protein, 10% lipid và nhiều chất dinh dưỡng khác. Xác đậu nành có thể được ứng dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm như một chất thay thế một phần cho bột mì hoặc làm chất bổ sung chất xơ và protein trong thực phẩm, một điều quan trọng là giá cả của xác đậu nành rất thấp [5]. Điều kiện để bảo quản tốt nhất của xác đậu nành là sau khi đã sấy khô, tuy nhiên xác đậu nành tươi có độ ẩm rất cao (70 - 80%).
Chính điều này đã khiến cho xác đậu nành thường bị loại bỏ do rất dễ bị hư hỏng [6]. Phần lớn xác đậu nành không được sử dụng hết và bị loại bỏ như chất thải công nghiệp mặc cho bản thân xác đậu nành có hàm lượng chất 1 xơ hòa tan dồi dào [7]. Nhu cầu sử dụng thịt thực vật ngày càng tăng trong tương lai có thể được giải quyết nhờ việc tận dụng được lượng phụ phẩm xác đậu nành dồi dào của ngành công nghiệp sản xuất đậu phụ và sữa đậu nành nếu có thể tận dụng loại phụ phẩm này vào việc phát triển một loại thịt thực vật mới. Mục tiêu của đề tài 2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu ứng dụng xác đậu nành sau khi trích ly và bột đậu đỏ vào chế biến thịt thực vật “Plant-based patties” 2.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định được thành phần dinh dưỡng của xác đậu nành, đậu đỏ (các chỉ số độ ẩm, hàm lượng protein, lipid, chất khoáng, v.v) Khảo sát công thức thịt thực vật dựa trên hàm lượng protein Khảo sát khả năng giữ nước của các mẫu thịt thực vật.
- Xác định các thông số màu sắc của các mẫu thịt thực vật. Khảo sát các tính chất cấu trúc của các mẫu thịt thực vật. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công thức phoi trộn thịt thực vật “plant-based patties” làm từ xác đậu nành, đậu đỏ, dầu dừa. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cấu trúc của các công thức phoi trộn sản phẩm thịt thực vật “plant-based” từ nguyên liệu chính là đậu đỏ và xác đậu nành.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Trong tương lai thịt từ thực vật giúp góp phần giải quyết được những vấn đề về lương thực cũng như giúp giảm áp lực cho các ngành chăn nuôi [8]. Thịt thực vật cũng tạo nên một chế độ ăn lành mạnh và góp phần giải quyết việc sản xuất lương thực bền vững [9], [10]. Nghiên cứu có giá trị cung cấp các thông tin chi tiết trong việc che biến dòng sản phẩm thịt thực vật nhằm thay thế được thịt động vật, giải quyết đầu ra cho phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến đậu phụ và sữa đậu nành. Góp phần phát triển các dòng sản phẩm cung cấp dưỡng chất đầy đủ cho con người đặc biệt là 2 cung cấp nguồn chất xơ để cải thiện sức khỏe của con người.
Mở ra một hướng đi mới cho ngành Công nghệ thực phẩm. Ngoài ra, sẽ tạo ra dòng sản phẩm phong phú và đa dạng cho người ăn chay. 3 CHƯƠNG1 TỎNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về thịt thực vật (plant-based meat) Có thể nói chi phí sản xuất thịt từ động vật là rất cao, việc sản xuất thịt đòi hỏi phải sử dụng đồng thời nhiều nguồn tài nguyên như đất, nước và năng lượng và mô hình này đã được chứng minh là không bền vững. Vậy nên nhu cầu về các sản phẩm thay thế thịt từ thực vật ngày càng tang [11].
Khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm thịt thay thế ngày càng tăng, các sản phẩm có nguồn gốc thực vật sản xuất bền vững hơn để thay thế thịt trong bữa ăn, điều này được thúc đẩy bởi niềm tin của người tiêu dùng rằng các sản phẩm thay thế thịt tốt cho sức khỏe hơn các sản phẩm thịt [12]. Thịt thực vật đang là đối tượng hướng đến và là xu hướng mới hiện nay, thịt có nguồn gốc từ thực vật có thể nói là sản phẩm ‘thịt thay thế” phù hợp cho thịt từ động vật cả về giá trị kinh tế, về môi trường và cả về sức khỏe cho người tiêu dùng. Nhiều thương hiệu thịt từ thực vật ra đời, hai trong số nhiều thương hiệu nổi tiếng có thể kể đến là Blendburger và Impossible Foods, trong đó thương hiệu Impossible Foods đã cho ra sản phẩm thịt thực vật có hương vị và mùi tương tự với thịt động vật (Leghemoglobin) [13]. Thịt có nguồn gốc từ thực vật nói chung có chứa nước với tỉ lệ khoảng 50% - 80%, protein thực vật có kết cấu với tỉ lệ khoảng 10% - 25%, đối với protein không có kết cấu là khoảng 4% - 20%, hương liệu là 3% - 10%, chất béo là khoảng dưới 15% và, 1 % - 5% đối với chất tạo bọt.
Thịt thực vật có thể được sản xuất nhờ các kỹ thuật như đùn và kéo sợi. Protein từ thực vật nói chung là nguồn protein tot vì chúng không chứa acid béo bão hòa cũng như cholesterol. Thịt thực vật còn là nguồn cung cấp các hợp chất tự nhiên chỉ có trong thực vật đồng thời bổ sung hàm lượng chất xơ đáng kể trong che độ ăn hằng ngày. Các chat protein họ đậu và các chất liên kết khác được thêm vào giúp điều chỉnh khả năng giữ nước, kết cấu và tính chất nhũ tương trong sản phẩm, cũng như ảnh hưởng đến điều kiện xử lý.
Kết cấu, hương vị và hình dạng của sản phẩm là yếu tố quyết định sự chấp nhận của người tiêu dùng. Do đó, hương liệu và chất tạo màu được thêm vào trong quá trình sản xuất, trong khi lượng chất béo 4 được kết hợp vào trong sản phẩm cũng đóng một vai trò trong việc tạo hương thơm, màu sắc và kết cấu của sản phẩm thực phẩm cuối cùng [8]. Các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu thực vật, giống như thịt động vật, đang trở thành một chiến lược hấp dẫn. Những sản phẩm này không chỉ được tạo ra từ nguồn nguyên liệu thực vật, mà còn mô phỏng độ giống hình dạng, màu sắc, hương vị, kết cấu và giá trị dinh dưỡng của thịt động vật.
Đồng thời, chúng còn có khả năng giảm thiểu tác động đến môi trường. Chất tương tự thịt được sản xuất từ thực vật thường có hàm lượng protein cao, làm cho chúng trở thành lựa chọn tốt cho việc bổ sung protein hoặc thay thế cho các bữa ăn nhẹ. Điều này đặc biệt quan trọng để giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng và đáp ứng nhu cầu protein cao trong che độ ăn hàng ngày. Với sự quan tâm ngày càng tăng về nguồn thực phẩm có nguồn gốc thực vật, do được cho là có hàm lượng cholesterol và calo thấp hơn so với thịt động vật, nhiều doanh nghiệp mới nổi và các công ty thực phẩm truyền thống đang tích cực phát triển và cung cấp những sản phẩm thực phẩm thực vật thay thế thịt động vật [14].
Theo một cuộc khảo sát của Benjamin M. Trong nghiên cứu này, xác đậu nành và bột đậu đỏ là chất đóng vai trò bổ sung protein, chất béo được bổ sung từ dầu dừa, citrus fiber được sử dụng như một chất tạo độ kết dính.2 Phân loại Có nhiều thuật ngữ phổ biến để đề cập đến thịt thực vật như: sản phẩm thay thế thịt, thịt tương tự, thịt giả, sản phẩm thay thế động vật, chất thay thế thịt, thịt thay thế, v. Các loại thực phẩm không chứa thịt động vật nhưng lại có thể mang lại trải nghiệm về mùi vị, xúc giác, hình dạng và về dinh dưỡng tương tự sản phẩm thịt động vật được gọi chung bằng một thuật ngữ là “chất tương tự thịt” [16]. Thịt thực vật cũng được gọi là “protein thực vật có kết cấu” vì những loại protein thực vật này được phát triển thành những cấu trúc tương tự thịt động vật thông qua các kỹ thuật thay đổi về mặt vật lý [17].
Như vậy có thể nói, dựa trên nguồn gốc của 5 chúng, các chất tương tự thịt có thể được phân loại thành hai loại thịt chính là thịt nuôi cấy và thịt có nguồn gốc thực vật [16]. Thịt nuôi cấy hay thịt tổng hợp là thịt được nuôi trong phòng thí nghiệm hoặc nuôi tại nhà máy và được sản xuất thông qua công nghệ nuôi cấy tế bào gốc động vật thành tế bào cơ sau đó phát triển nhứng tế bào cơ đó thành mô thịt. Trong phòng thí nghiệm, môi trường sạch sẽ và được kiểm soát nên thịt nuôi được nuôi cấy được đảm bảo không có các loại bệnh ở động vật như bệnh não xốp ở bò và bệnh lở mồm long móng. Các sản phẩm thịt có nguồn gốc thực vật là thực phẩm có thành phần chủ yếu là protein có nguồn gốc thực vật.