Chương 1: Phan mở dau _4- CHUONG 2. TONG QUAN NGHIEN CUU 2. TONG QUAN NGHIEN CUU TREN THE GIOI VA TRONG NUOC 2. Tổng quan về nghiên cứu trên thé giới Vấn đề kiểm soát ngập lụt, tiêu thoát nước và môi trường trong đô thị và các khu vực dân cư đang là van dé thách thức cho các nước đang phát triển và ngay ca các nước đã phát triển.
Dé giải quyết van dé này, việc xây dựng các công trình tiêu thoát nước, kiểm soát triều, lũ gần như là giải pháp phổ thông nhất dang được các nước lựa chọn. Chăng hạn như Hà Lan nỗi tiếng với hệ thống kiểm soát triều tại các cửa sông; Anh với hệ thống kiểm soát triều trên sông Thames và gần đây Nga đang xây dựng Hệ thống kiểm soát triều cho thành phố Saint Petersburg. Nhìn chung các nước ở khu vực Đông Nam Á, do sự phát triển nhanh của khu vực thành thị và vùng phụ cận nên dẫn đến thu hẹp diện tích rừng từ đó dẫn đến làm tăng khả năng lũ lụt, tăng lưu lượng các lòng dẫn, dẫn đến làm tăng tần suất ngập lụt tại các thành phố lớn. Don cử như vào năm 2004, cả thành phố Kuala Lumpur phải hứng chịu một trận mưa lớn hàng trăm mm/ngày khiến cả thành phố chìm trong ngập lụt và giao thông đình trệ; và cũng như thu đô Bangkok, Thái Lan chim trong cơn ngập lụt lich sử trong năm 2011 (Hình 2.1: Ngập lụt của thành phố Bangkok năm 2011 Chương 2: Tổng quan nghiên cứu _5- Ở Malaysia, để giải quyết van dé ngập lụt cho thủ đô Kuala Lumpur (Hình 2.
chính phủ Malaysia đã thực hiện một dự án xây dựng đường ham trữ nước, thoát lũ và giải quyết nạn ùn tắt giao thông cho thành phố. Dự án SMART (Stormwater Management And Road Tunnel) — Quan lý nước mưa và đường hầm giao thông. Dự án bat đầu từ ngã ba sông Klang và sông Ampang với một cấu trúc công phân lũ gồm 4 bộ cửa cắt sông Klang để từ đó nước lũ chảy vào hồ Berembang Holding thông qua một co cấu đập tran-céng lấy nước. Nước từ hồ được chuyển qua đường ham và xả ra hồ giảm tải Taman Desa.
Nước được chứa trong hỗ trước khi xả vào sông Kerayong qua cơ cau cửa xả Box Twin (Hình 2. xoa EIvtd RETO LEGEND.INGRESS4EGRESS | | INLET SYSTEM | & Motorway Alignment |3km]/ /Ss E StormwaterStormwater Alignment (3 7km} — tongestedArea ẳ | >> Q— = imine = “ước w > ` a RIS = % LỘ = > + *% SUBANG JAYA Righw, ma SHAH ALAM « < KLANG p. 4 — H TBM TƯNNEL ET SYSTEM £ + - | SOUTH INGRESS-EGRESS KAJANG 5 AI ALIGNMENT OF SMART Hình 2.3: Vị trí xây dựng đường ham thoát lũ ở Kuala Lumpur Chương 2: Tổng quan nghiên cứu _6- Các đường ham dài 11,5 km, đường kính 13,2m chuyển nước từ hop lưu của 2 con sông chảy qua trung tâm Kuala Lumpur, trong đó tại phần giữa đường ham với chiều dài 3 km, có đường kính tăng gấp đôi, mặt cắt đường hầm được chia làm 3 phan, 2 phan trên được dùng làm đường cao tốc để giảm ùn tắc giao thông tại cửa ngõ chính phía Nam vào trung tâm thành phố, cách 250m có 1 cửa thoát lũ và không khí, độ dốc đường ham là 1/1000: lưu lượng 30.000 xe/ngày, tốc độ xe thấp nhất 60 km/h; được điều khiến từ Trung tâm thông qua 220 camera và 72 màn hình. Trung tâm kiểm soát SMART hoạt động 24 gid/ngay.
Khi lưu lượng tăng cao tại các ngã ba, Trung tâm sẽ gửi một tín hiệu để các Trạm kiểm soát đường cao tốc ra lệnh sơ tán các phương tiện giao thông ra khỏi đường hầm. Sau khi đã giải phóng hết các phương tiện giao thong, nước chảy vào toàn bộ đường ham. Khi nước lũ đã rút, đường ham được làm sạch và cửa ham được mở cho giao thông. Đường ham hoạt động theo 4 chế độ (Hình 2.4): Chế độ 1: Khi thời tiết bình thường, không mưa hoặc ít mưa - được phép thông xe trong ham; Chế độ 2: Mưa vừa, khi vận tốc dòng chảy đo được tại ngã ba sông Klang/sông Ampang (trạm đo lưu lượng L4) đạt 70-150 m/s thì chỉ mở cống lay nước phía dưới của SMART dé chuyển nước đến hồ giảm tải Taman Desa.
Trong đó 50 m’/s được thải ra trung tâm thành phố. Đường hầm vẫn mở cửa dé thông xe; Chế độ 3: Mưa lũ lớn xảy ra, mồ hình dự báo lỗ tại L4 dat 150 m”⁄s trở lên. Chỉ thải 10 m’/s ra trung tâm thành phố. Ngừng thông xe trong ham.
Mua bão lớn hơn chút ít hoặc dừng lại, nhưng không làm ngập đường ham giao thông, đường được mở cửa lại sau thời gian 2-8 giờ ké từ khi đóng cửa; Chế độ 4: Mưa bão lớn tiếp tục, kéo dài (thường phải xác nhận sau 1-2 giờ khi chế độ 3 đã được khăng định). Phần hầm giao thông được sử dụng hoàn toàn cho thoát lũ, sau khi đã sơ tán triệt để các phương tiện giao thông. Khi lũ rút, đường ham sẽ mở cửa dé thông xe trong vòng 4 ngày kế từ ngày đóng cửa. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu -_Z- Hiệu quả của dự án SMART là đã giải quyết triệt để nạn úng ngập do mưa lũ cho Kualar Lumpur.
Theo tính toán khi thiết kế, SMART có tân suất sử dụng thoát lũ 2 lần/năm, nhưng trên thực tế, kế từ khi đưa vào sử dụng (tháng 7/2007) đến tháng 5/2008 đã có 7 lần SMART hoạt động ở chế độ thứ hai và 2 lần hoạt động ở chế độ thứ ba. Từ khi SMART hoạt động, thủ đô Kuala Lumpur đã thoát cảnh ngập lụt và là một công trình chống úng ngập độc đáo trên thế giới.4: Các chế độ điều tiết lũ của đường ham thoát lũ ở Kuala Lumpur Khoảng hơn thập niên trước đây thành phố Bangkok có những điều kiện địa hình, khí hậu tương tự với TP. Hồ Chí Minh trong khi phát triển mở rộng đô thị cũng thường xuyên bị ngập lụt do mưa và triều. Tuy nhiên hiện nay Bangkok đã xây dựng các giải pháp chống ngập lụt cho thành phố (Hình 2.5): — Xây dựng hệ thống đê bao, công và các trạm bơm tiêu dọc sông Chao Phraya.
— Xây dựng hệ thống tiêu thoát nước nội bộ để giải quyết trình trạng ngập cục bộ. Xây dựng các hé điều hòa dé làm gia tăng khả năng trữ nước lũ. — Phân chia thành các khu vực vực để quản lý và kiểm soát ngập. — Xây dựng tuyến tuynen tiêu ngầm để thoát nước lũ.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu & Lểmoveeessexslsen tuner SÂN sey mg. , ` ` ` » = vest chsa Hình 2.5: Các giải pháp chống ngập cho thành phố Bangkok, Thái Lan Cùng với việc xây dựng hệ thống công trình kiểm soát lũ và tiêu thoát nước thì việc đưa ra quy trình điều hành hệ thống là đặc biệt quan trọng. Các quy trình điều hành được xây dựng săn, theo đó các kịch bản vận hành đã được thiết kế, với sự hỗ trợ của các hệ thống quan trắc tự động SCADA, dự báo được thiết lập để phục vụ cho việc vận hành. Existing Drainage and Flood Protection System : Hình 2.6: Qui trình hoạt động của hệ thong cảnh báo ngập lụt của TP.
Bangkok Chương 2: Tổng quan nghiên cứu _09- Điền hình là công trình kiểm soát ngập lũ của TP.5), được thiết lập bởi sự kết hợp của 2 mồ hình: mồ hình thủy lực dự báo MIKE II và hệ thống quan trắc thu thập dữ liệu tự động SCADA. Hệ thống SCADA có nhiệm vụ thu thập mực nước và lượng mưa của các trạm quan trắc trong lưu vực sau đó truyền về trung tâm điều hành ở BangKok qua sóng radio hay GSM/GPRS (Hình 2. Dữ liệu nay được nhập vào mồ hình thủy luc MIKE 11 để chạy các kịch bản dự báo được thiết lập săn. Vào mùa khô, không có các nguy cơ về ngập lụt thì định kỳ mô hình dự báo MIKE 11 được chạy 2 tuan/1 lần.
Trong khi đó, vào mùa lũ thì tần suất chạy dự báo được nâng lên 1 lan/1 tuần để tăng tính chính xác và kip thời. Ở Hà Lan, các kịch bản ngăn triều khi có bão đã được thiết kế, cùng với một hệ thống quan trắc mực nước đã được xây dựng và một hệ thống dự báo dựa trên mô hình toán với hàng ngàn thông số đã được thiết lập. Việc dự báo được cập nhật liên tục, từ đó chế độ vận hành được đưa ra phải chính xác và phù hợp thực tế, vi đây là tuyến giao thông thủy quốc tế cực kỳ quan trọng của Châu Âu, việc ngưng trệ giao thông thủy do đóng công ngăn triều sẽ gây ton thất kinh tế rất lớn cho Hà Lan. Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng Hệ thống các giải pháp kiểm soát lũ toàn diện cho lưu vực sông Tsurumi (System of Comprehensive Flood Control Measures) chủ yếu dựa trên 3 giải pháp: (i) giải pháp sông; (11) giải pháp lưu vực và (iii) giải pháp giảm thiểu tác hại.
Hai giải pháp đầu tập trung xây dựng công trình kiểm soát, điều tiết lũ như dé, đập, hồ chứa,. Còn trong giải pháp thứ ba đã tập trung xây dựng mạng lưới giám sát, cảnh báo và qui trình vận hành các công trình kiểm soát lũ. Gần đây dưới sự tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu A (ADB), Trung Quốc đã xây dựng dự án kiểm soát lũ đô thị cho tỉnh miền núi Hunnan bao gồm 35 thị xã và 8 thành phố lớn. Một trong những van dé mà dự án quan tâm là xây dựng hệ thống thông tin dé kiểm soát lũ.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu -10- ~ Hình 2.7: Trung tâm điều hành hệ thong cảnh bảo ngập lụt của TP. Bangkok Tuy các nghiên cứu trên có tính đặc thù thích hợp cho từng quốc gia, từng vùng và từng chủng loại công trình, nhưng các cách tiếp cận, nguyên lý điều hành, các cơ sở khoa học cho việc vận hành hệ thống tiêu thoát, kiểm soát triều là những bài học bố ích cho đề tài này. Vẻ công cụ hỗ trợ cho lập qui trình vận hành, thì trên thế giới cũng đã phat triển hàng loạt chương trình, phân mềm tính toán kỹ thuật, hỗ trợ ra quyết định, chang hạn như: Mô hình Storm Water Management Model version 5 (SWMM 5) do EPA (Co quan Bảo vệ Môi trường, Mỹ) phát triển, là mô hình mô phỏng dòng chảy tràn do mưa và dòng chảy thoát nước ngầm cả lượng và chất cho các vùng đô thị và ven đô có thể liên kết với Google Earth. EPANET là một chương trình tính toán phân tích thủy lực và chất lượng nước của mạng lưới đường ống cũng do EPA phát triển, có thể kết hợp với module SCADA.