Chương 1 đã nêu một số khái niệm cơ bản về Internet of Things, xu thế của Internet of Things , các lĩnh vực ứng dụng của IoT, các vấn đề khi ứng dụng IoT đây là các kiến thức nền tảng áp dụng cho chương 2 giải pháp ứng dụng IoT vào hệ thống quản lý trạm BTS. Luan van 9 CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG IoT VÀO HỆ THỐNG QUẢN LÝ TRẠM BTS TẠI VNPT HƯNG YÊN Hiện nay, hạ tầng mạng lưới của Viễn thông Hưng Yên trải rộng khắp địa bàn tỉnh Hưng Yên trong đó có rất nhiều nhà trạm thiết bị Viễn thông – CNTT cần được duy trì và đảm bảo hoạt động 24/24. Trong các nhà trạm luôn luôn được trang bị các hệ thống ắc quy và máy phát điện để đảm bảo duy trì nguồn hoạt động cho các thiết bị khi xảy ra sự cố mất điện AC. Việc quản lý, giám sát, đánh giá chất lượng ắc quy để đưa ra các biện pháp bảo dưỡng, thay thế đồng thời đưa ra được thời gian tối ưu của khả năng đáp ứng của ắc quy trong việc duy trì hoạt động; giám sát giờ chạy máy phát điện để biết được lượng chi phí xăng dầu là việc quan trọng trong công tác sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Đồng thời với đó là việc giám sát đánh giá chất lượng nhà trạm ( nhiệt độ, độ ẩm, điện áp ) và công tác bật tắt các thiết bị phụ trợ ( điều hòa, quạt, máy phát điện ) hiện nay đều phải thực hiện bằng nhân công và thực hiện theo cảm tính và thực tế tại trạm. Để giải quyết các vấn đề đó, cần có một hệ thống giám sát nhà trạm, quản lý ắc quy, giám sát máy phát điện, và điều khiển thiết bị phụ trợ nhà trạm đáp ứng theo đúng yêu cầu tại Viễn thông Hưng Yên. Các yêu cầu và đặc trưng giữa IoT và hệ thống quản lý trạm BTS 2. Các yêu cầu của một hệ thống IoT Các yêu cầu để có thể trở thiết lập một IoT sẽ rất cao và khắt khe với các tiêu chí như sau: Có kết nối dựa trên sự nhận diện: Các đồ vật, máy móc, thiết bị thường gọi chung là “Things” phải có tên hay địa chỉ IP riêng biệt.
Hệ thống IoT cần hỗ trợ các kết nối giữa các “Things” và kết nối được thiết lập dựa trên định danh IP của Things. Khả năng quản lý: Hệ thống IoT làm việc tự động mà không cần sự tham gia người, vì thế chúng cần phải hỗ trợ tính năng quản lý các “Things” để đảm bảo mạng lưới hoạt động bình thường. Khả năng bảo mật: Vì trong IoT có rất nhiều “Things” sẽ được kết nối với nhau, làm tăng mối nguy trong bảo mật như lộ thông tin, xác thực sai, sai lệch dữ liệu,. Bên cạnh đó, các “Things” trong hệ thống có thể thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau và chứa thông tin cá nhân của họ.
Vì thế, các hệ thống IoT cần bảo vệ sự riêng tư trong quá trình truyền dữ liệu, tập hợp, lưu trữ, khai thác và xử lý. Dịch vụ thỏa thuận: Dịch vụ này để có thể được cung cấp bằng cách thu thập, giao tiếp và xử lý tự động các dữ liệu giữa các “Things” dựa trên các quy tắc được thiết lập bởi người vận hành hoặc tùy chỉnh bởi người dùng. Luan van 10 Khả năng cộng tác: Khả năng này cho phép hệ thống IoT có khả năng tương tác qua lại giữa các mạng lưới và Things một cách dễ dàng. Khả năng tự quản của mạng lưới: Bao gồm tự quản lý, tự cấu hình, tự khắc phục lỗi, tự tối ưu hóa, tự có cơ chế bảo vệ,.
để mạng lưới có thể thích ứng với các tên miền ứng dụng, môi trường truyền thông và nhiều loại thiết bị khác nhau,… Các khả năng dựa vào vị trí (location – based capabilities): Hệ thống IoT có thể biết và theo dõi vị trí một cách tự động. Các dịch vụ dựa trên vị trí này có thể bị hạn chế bởi luật pháp hay quy định, và phải tuân thủ các yêu cầu an ninh. Khởi động và sử dụng: Hệ thống IoT bắt buộc các “Things” phải được khởi động và sử dụng một cách dễ dàng và tiện dụng[2].1: Mô hình cơ bản hệ thống IoT 2. Các đặc trưng cơ bản của IoT Hệ thống IoT sẽ bao gồm các đặc trưng như sau: Không đồng nhất: Các thiết bị trong IoT thường không đồng nhất vì sở hữu phần cứng, cũng như hệ thống khác nhau và có thể tương tác với nhau nhờ vào sự liên kết của các hệ thống.
Kết nối liên thông (Interconnectivity): Đối với hệ thống IoT, các vật dụng, thiết bị đa dạng đều có thể kết nối với nhau thông qua mạng lưới thông tin và cơ sở hạ tầng liên lạc tổng thể. Dịch vụ liên quan đến “Things”: Hệ thống IoT có khả năng cung cấp các dịch vụ liên quan đến “Things” chẳng hạn như bảo vệ sự riêng tư và nhất quán giữa thiết bị vật lý (Physical Thing) và phần mềm (Virtual Thing). Có quy mô lớn: Số lượng rất lớn các thiết bị, máy móc sẽ được quản lý và giao tiếp với nhau với quy mô lớn hơn nhiều so với số lượng máy tính kết nối Internet hiện nay. Số lượng thông tin được truyền bởi các thiết bị sẽ lớn hơn nhiều so với con người thực hiện.
Có thể thay đổi linh hoạt: Các trạng thái của các thiết bị điện tử, máy móc có thể tự động thay đổi như tắt và bật, kết nối hoặc ngắt, truy xuất vị trí,… 2. Các vấn đề khi ứng dụng IoT IoT đang giúp con người kết nối với nhau dù không cùng vị trí địa lý. Các chính phủ và doanh nghiệp có thể giám sát, kiểm soát các hoạt động liên quan đến Luan van 11 cơ sở hạ tầng, điều khiển giao thông vận tải, kết nối ứng dụng y tế theo dõi chăm sóc sức khỏe từ xa,. Công nghệ IoT đang ngày càng cung cấp mức độ tiện nghi cho cuộc sống, nhưng ngược lại cũng đòi hỏi chúng ta phải chia sẻ nhiều thông tin cá nhân hơn.
Và trong một guồng máy lớn với các hệ thống IoT đang cùng nhau vận hành, việc tương tác thông tin dữ liệu sẽ là rất tốt và hoàn hảo, cho đến khi tin tặc xâm nhập vào hệ thống và chiếm quyền điều khiển một thiết bị cho mục đích xấu. Sẽ chỉ là một vấn đề rắc rối riêng tư khi một camera trong ngôi nhà nào đó bị chiếm quyền theo dõi, nhưng nếu là để xảy ra sự mất kiểm soát quyền điều khiển trực tuyến các cột đèn giao thông của toàn bộ một thành phố thì đó sẽ là một thảm họa. Tuy nhiên, ngược với tầm quan trọng của bảo mật thông tin dữ liệu hệ thống IoT, thực tế các thiết bị IoT trên thị trường hiện nay lại xuất hiện những lỗ hổng an ninh, với tần suất hơn nhiều so với các lỗ hổng an ninh ở các máy tính trong hệ thống IT. Việc các thiết bị IoT dễ bị lỗ hổng so với các máy tính trong hệ thống IT là có nhiều yếu tố nguyên nhân khác nhau, trong đó có 3 nguyên nhân chính: a, Bài toán hiệu quả kinh tế Nguyên nhân mang tính thách thức chính yếu là liên quan đến hiệu quả kinh tế trong việc thiết kế sản phẩm IoT có bảo mật tốt và thương mại hóa các sản phẩm này.
Các sản phẩm thiết bị kết nối IoT phần lớn có kích thước nhỏ gọn, trang bị bên trong các bộ vi xử lý nhúng đơn giản, có năng lực hạn chế hơn nhiều so với các bộ vi xử lý trên máy tính, nên khiến việc triển khai mã hóa, cũng như những phương thức bảo mật khác trở nên khó khăn. Bộ nhớ chương trình cũng có dung lượng giới hạn không cho phép thực hiện các cơ chế bảo mật đầy đủ. Nếu nhà sản xuất thiết bị IoT sử dụng những bộ vi xử lý mạnh và bộ nhớ nhiều hơn sẽ gặp thách thức về giá thành sản xuất và thương mại sản phẩm không hiệu quả, đặc biệt cho những thiết bị có giá rẻ và có thể dùng chỉ 1 lần. Thực tế có nhiều nhà sản xuất thiết bị IoT có thể xây dựng an ninh cho các sản phẩm nhưng họ đã không làm như vậy.
Phần lớn các bộ điều khiển thiết bị hoạt động trong các môi trường dân dụng hay công nghiệp đều thiếu cơ chế bảo vệ cơ bản như xác thực và mã hóa. Ngay cả trong trường hợp một lỗ hổng trên những thiết bị IoT giá rẻ dạng này bị phát hiện, sẽ rất khó về mặt kinh tế để các hãng có thể thực hiện cập nhật phần mềm và vá lỗi dễ dàng như trên máy tính. b, Quy trình bảo mật của thiết bị và người dùng Nguyên nhân phổ biến kế tiếp là có những công ty thiết kế và sản xuất thiết bị IoT còn thiếu kinh nghiệm trong việc thiết kế bảo mật sản phẩm hay xây dựng quy trình bảo mật sản phẩm thuận tiện. Kèm theo đó, những người dùng không có đủ kiến thức chuyên môn để quan tâm, phân tích, xử lý các mối đe dọa do các thiết bị IoT gây ra.
Luan van 12 Các thiết bị IoT thông thường sẽ có một chức năng chính và chức năng kết nối Internet kèm theo. Thông thường, chức năng kết nối Internet được người sử dụng xem là tính năng phụ bên cạnh chức năng chính của loại thiết bị IoT đó. Và theo quan điểm của người dùng thông thường thì bảo mật kết nối Internet của sản phẩm mua về tốt hay kém cũng không quan trọng lắm, khi đặt bên cạnh sự quan tâm chủ yếu đến chất lượng và tính năng chính của thiết bị. Họ chỉ đơn giản là mua một sản phẩm về, cắm điện vào rồi sử dụng, mà không biết được những rủi ro tiềm ẩn đằng sau sản phẩm của mình.
Đối với người dùng bình thường, rất khó để khiến họ cập nhật những bản vá mới nhất trên máy tính, điện thoại thông minh. Còn đối với quy trình cập nhật firmware thiết bị với bản vá bảo mật trên thiết bị IoT thường thì sẽ rắc rối hơn so với máy tính, do đó rất khó thuyết phục người dùng thực hiện đúng yêu cầu cập nhật cần thiết. Với quy trình bảo mật hiện tại, hầu hết cho các thiết bị IoT chưa có được sự quan tâm cần thiết của người dùng, và nó tạo ra lỗ hổng bảo mật xác thực dễ bị khai thác, như mật khẩu mặc định mà không bao giờ được người dùng thay đổi. Một nghiên cứu của công ty bảo mật Bkav cho thấy có tới 76% camera IP tại Việt Nam hiện vẫn dùng tài khoản và mật khẩu được nhà sản xuất cài đặt sẵn [8].