Chương 1 Giới thiệu về dữ liệu 3D và công nghệ in 3D 1. Các kiểu dữ liệu hình dạng 3D Hình 1.1: Các cách biểu diễn khác nhau cho dữ liệu 3D. 8 Ngày nay, các kiến trúc học sâu trên dữ liệu 2D đã đạt được những thành công đáng kể trong lĩnh vực thị giác máy tính thông qua các kết quả ấn tượng trong nhiều nhiệm vụ như phân loại (classification), phân đoạn (segmentation), phát hiện và xác định vị trí (detection and localization), nhận dạng và hiểu cảnh (scene understanding),. Sức mạnh chính của các kiến trúc học sâu nằm ở khả năng học dần dần các đặc trưng phân biệt có cấu trúc của dữ liệu đầu vào.
Hầu hết các kiến trúc học sâu được xây dựng trên dữ liệu 2D đã cho thấy sự cần thiết của lượng lớn dữ liệu huấn luyện. Ngày nay, với sự tiến bộ trong công nghệ cảm biến 3D và sự gia tăng của các thiết bị thu thập dữ liệu 3D đã làm cho lượng dữ liệu 3D có sẵn tăng lên đáng kể. Dữ liệu 3D cung cấp thông tin phong phú và đầy đủ về hình học của các đối tượng 3D. Dưới sự thúc đẩy của những bước tiến đột phá trong học sâu và sự sẵn có của dữ liệu 3D, cộng đồng thị giác máy tính 3D đã tích cực nghiên cứu mở rộng các kiến trúc học sâu cho dữ liệu 3D.
Dữ liệu 3D có thể có các biểu diễn khác nhau, trong đó cấu trúc và các thuộc tính hình học thay đổi từ biểu diễn này sang biểu diễn khác. Trong phần này, chúng tôi trình bày tổng quan về một số biểu diễn dữ liệu 3D, bao gồm biểu diễn Euclidean và phi Euclidean, như trong Hình 1. Dữ liệu 3D Euclidean có một cấu trúc lưới cơ bản cho phép một tham số hóa toàn cục và một hệ thống tọa độ chung. Những đặc tính này làm cho việc mở rộng các mô hình học sâu 2D hiện có sang dữ liệu 3D trở nên đơn giản, trong đó phép tích chập được duy trì giống như 2D.
Dữ liệu 3D Euclidean thích hợp trong việc phân tích các đối tượng cứng với biến dạng tối thiểu như dữ liệu voxel cho các đối tượng đơn giản. Ngược lại, dữ liệu 3D phi Euclidean không có cấu trúc mảng lưới, không có tham số hóa toàn cầu. Do đó, việc mở rộng các kỹ thuật học sâu 2D sang các biểu diễn như vậy là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên, hiểu cấu trúc của những biểu diễn này là quan trọng trong việc phân tích các đối tượng mềm dẻo cho các ứng dụng khác nhau như nhiệm vụ phân đoạn trên mô hình cơ thể con người cùng với sự tương ứng từ điểm này đến điểm khác.
Với mục tiêu mở rộng phạm vi các kiến trúc học sâu và làm cho việc áp dụng các mô hình học sâu vào dữ liệu 3D dễ dàng hơn, chúng ta cần hiểu về các đặc tính cấu trúc của các biểu diễn khác nhau của dữ liệu 3D. Chi tiết về sự giống và khác nhau của các biểu diễn dữ liệu 3D này được 9 trình bày chi tiết trong bài báo về sự khảo sát của học sâu trên các đối tượng dữ liệu 3D [34]. Sự phát triển của công nghệ in 3D Công nghệ in 3D (3D Printing) hay có tên gọi khác là AM (Additive Manufacturing) là một trong những công nghệ đang được quan tâm phát triển hàng đầu và có tiềm năng ứng dụng ngày càng to lớn trong rất nhiều lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, xây dựng, giao thông vận tải và xe hơi, công nghiệp sản xuất, điện tử, năng lượng, hàng không vũ trụ và quốc phòng hay những lĩnh vực phục vụ đời sống hàng ngày như hàng tiêu dùng, thực phẩm,. Nghiên cứu khảo sát toàn diện về vật liệu, phương pháp, ứng dụng và thách thức của công nghệ in 3D có thể được tìm thấy tại [35].
Hiện nay, các ứng dụng của công nghệ in 3D đang ngày càng phát triển rộng rãi, nó thâm nhập sâu từ các lĩnh vực công nghiệp vĩ mô như hàng không, vũ trụ đến các ngành cơ bản như y tế, giáo dục, xây dựng, kiến trúc, nghệ thuật và thời trang. Cụ thể, trong ngành công nghiệp điện tử, máy in 3D đã được sử dụng để chế tạo các bộ phận phức tạp, đặc biệt từ các chất liệu khác nhau và đã mở ra một trào lưu mới. Trong công nghiệp sản xuất, máy in 3D được sử dụng ngày càng rộng rãi, nhờ khả năng sản xuất các mô hình có hình dạng phức tạp, tạo nhanh sản phẩm thử nghiệm theo yêu cầu. mở ra tiềm năng về lợi thế chi phí sản xuất, cải tiến quy trình và cả sản phẩm cho các nhà cung cấp.
Trong công nghiệp ô tô, in 3D được sử dụng để sản xuất thử nghiệm các thiết kế, tạo mẫu và sản xuất một số bộ phận, công cụ lắp ráp đặc biệt. Thậm chí, người ta đã ứng dụng công nghệ in 3D để sản xuất ra những chiếc xe hoàn chỉnh. Trong y tế, công nghệ in 3D đã được ứng dụng để sản xuất các mô sinh học, mô hình giải phẫu bộ phận cơ thể con người (xương, răng, tai giả. Công nghệ này cũng được sử dụng để hỗ trợ các thử nghiệm về phương pháp và công nghệ y tế mới, tăng cường nghiên cứu y khoa, giảng dạy và đào tạo đội ngũ y, bác sỹ.
Đặc biệt, với in 3D các mô sinh học (Bioprinting), người ta còn kỳ vọng là có thể sản xuất ra các bộ phận cơ thể người phục vụ cho việc thay thế và cấy ghép các 10 cơ quan bị hỏng. Trong giáo dục, in 3D có những ứng dụng rất thiết thực, đặc biệt liên quan đến các môn học khoa học, công nghệ, kỹ thuật và kỹ năng toán học. Sinh viên có thể thiết kế, sản xuất các sản phẩm trong lớp học và có cơ hội thử nghiệm các ý tưởng, vừa học vừa làm với máy in 3D. Cách làm này làm giúp tăng hứng thú học tập, làm việc theo nhóm, tương tác trong lớp học cũng như hỗ trợ khả năng sáng tạo và tư duy 3 chiều của sinh viên.
Sự cải tiến liên tục đã thúc đẩy phát triển công nghệ in 3D trong hàng loạt các ứng dụng sản xuất. Các ứng dụng này dự kiến sẽ trở nên phổ biến hơn nữa trong 5 đến 7 năm tới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Kinh tế nước ta đang phát triển, công nghệ chiếm tỷ trọng cao là cơ sở cho sự phát triển của công nghệ in 3D.
Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2003 và chủ yếu được ứng dụng trong nghiên cứuu (do chi phí cao), đến nay, công nghệ này đã có mặt ở khá nhiều lĩnh vực như y khoa, kiến trúc, mỹ nghệ, thời trang, cơ khí, giáo dục,.2: Các dấu mốc phát triển của công nghệ in 3D tại Việt Nam. Trong đề án này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tiềm năng ứng dụng của công nghệ in 3D trong lĩnh vực y tế. Ưu điểm của in 3D được thể hiện rất rõ trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ với vô vàn ứng dụng. Công nghệ in 3D rất hữu ích trong sản xuất các mô hình sinh học (các mô hình bộ phận con người như xương, răng, tai giả.
Trong 11 ứng dụng này, mô hình điện tử của bộ phận cơ thể con người được dựng bởi các hình ảnh 3D hoặc một máy quét 3D. Sau đó, mô hình sinh học được tạo ra từng lớp từng lớp nhờ vào công nghệ in 3D. Trong ngành giải phẫu, mỗi bệnh nhân là một cá thể riêng biệt và duy nhất, mô hình sinh học 3D cho phép bác sỹ thực hiện phẫu thuật thuận lợi hơn do có được sự hiểu biết sâu hơn về cơ thể bệnh nhân và các chẩn đoán được chính xác hơn. Nhờ đó, kế hoạch phẫu thuật được chi tiết hơn, các thử nghiệm, diễn tập phẫu thuật hay hướng dẫn trong ca mổ được đảm bảo về độ chính xác và chất lượng.
Công nghệ in 3D còn hỗ trợ các thử nghiệm phương pháp và công nghệ y tế mới, tăng cường nghiên cứu y khoa, giảng dạy và đào tạo đội ngũ y bác sỹ. Chẳng hạn như giúp bác sĩ có thể luyện tập phẫu thuật giả lập bằng các mô nội tạng nhân tạo hoặc chế tạo các dụng cụ trong y học được sử dụng để đưa hoặc gắn vào trong cơ thể. Ngoài ra, cũng tương tự như việc tạo mô hình sinh học, công nghệ in 3D còn được dùng để thiết kế và sản xuất các bộ phận cơ thể giúp cho phẫu thuật tái tạo và cấy ghép. Các dụng cụ y tế như máy trợ thính, khung đỡ, mặt nạ, răng giả.
đều có thể sản xuất bằng công nghệ in 3D theo đúng như kích thước, hình dạng, đặc điểm của từng bệnh nhân. Một trong những ứng dụng thú vị nhất của in 3D là chế tạo mô và các cơ quan của con người, mà người ta hay gọi là In sinh học – Bioprinting. Nhờ vào công nghệ này, hệ thống tế bào mô của con người có thể được in theo lớp bằng mực sinh học - mực thu được qua xử lý đặc biệt các tế bào con người và các chất khác. Mặc dù vẫn có một số vấn đề liên quan đến sự ổn định và chức năng cấu trúc trong in sinh học, nhưng những tiến bộ đáng kể đã được ghi nhận với mô người và các cơ quan.
In sinh học hứa hẹn những cơ hội quý báu cho phát triển thuốc y tế, phương pháp điều trị thử nghiệm, nghiên cứu y học, chữa lành vết thương, và cả cấy ghép. Nếu các cơ quan này được tạo ra từ các tế bào gốc của bệnh nhân, nó sẽ ít có nguy cơ bị đào thải bởi hệ miễn dịch của người đó. Về những ứng dụng của sản phẩm in 3D trong lĩnh vực ngoại khoa, các sản phẩm in 3D có thể được sử dụng để cấy trực tiếp vào trong cơ thể người. Ví dụ, do hình dạng của khớp gối rất phức tạp, khi gắn khớp nhân tạo thì chỉ cần điều chỉnh rất nhỏ về góc độ cũng có thể giúp giảm đáng kể áp lực lên đầu gối bệnh nhân.
Đây chính là lĩnh vực tiềm năng lớn dành cho công nghệ in 3D. In 3D cũng bắt 12 đầu được sử dụng để sản xuất hộp sọ nhân tạo. Cụ thể khi phẫu thuật cắt bỏ u xương ác tính của bệnh nhân, người ta thay thế phần đã bị cắt bỏ bằng phần sọ nhân tạo đã được chế tạo bằng máy in 3D. Thông thường trước kia người ta dùng titan để cấy ghép, vấn đề ở chỗ khi bệnh nhân tái phát rất khó để xác định vị trí phần titan đã được sử dụng.
Nếu sử dụng công nghệ in 3D có thể khắc phục nhược điểm này.