Chương 1 VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NHÀ VĂN NỮ DÂN TỘC TÀY - BÙI THỊ NHƯ LAN 1. Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kì hiện đại Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) hiện đại là một bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, bao gồm các sáng tác của tác giả người dân tộc thiểu số và chủ yếu viết về đề tài dân tộc và miền núi. Đầu thế kỉ XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học Quốc ngữ, văn học viết về đề tài dân tộc và miền núi cũng xuất hiện và dần khẳng định vị trí với sự tham gia của nhiều tác giả là người dân tộc Kinh, ví dụ như: Thế Lữ, Lan Khai, Nguyễn Tuân…; giai đoạn sau năm 1945 có: Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Trung Thành…; và từ năm 1975 đến nay có Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thúy. Những tác phẩm của các tác giả người Kinh này đã khắc họa được bức tranh về con người và cuộc sống miền núi (Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên.) trong suốt chiều dài lịch sử từ thời chống Pháp, chống Mỹ và thời hòa bình của đất nước ta.
Sự xuất hiện của các tác giả này với những tác phẩm của họ thực sự là rất quan trọng để những nhu cầu và khát vọng viết về dân tộc mình bằng văn xuôi của các nhà văn DTTS có điều kiện được thực hiện. Học tập và kế thừa thành tựu của văn xuôi người Kinh viết về miền núi, được sự quan tâm cụ thể của Đảng và Nhà Nước, từ sau kháng chiến chống Pháp, các cây bút văn xuôi DTTS đã dần xuất hiện và ngày càng khẳng định sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà, nhằm đem lại cho độc giả những hiểu biết chân thực, toàn diện và đầy đủ hơn về cuộc sống, về con người, về các phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng trong cả nước. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như trên đã nói, đầu thế kỷ XX, trên văn đàn văn học Việt Nam đã xuất hiện một số tác phẩm viết về đời sống sinh hoạt của người dân tộc thiểu số ở miền núi. Những tác giả đóng góp cho mảng đề tài này đều là người Kinh như: Thế Lữ với tập truyện Vàng và máu (1934), Lan Khai với Truyện đường rừng (1940).
Đương thời, những tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của người đọc bởi sự mới mẻ, kì dị, kích thích trí tò mò khám phá của độc giả trước cảnh sắc của những miền đất xa xôi, hoang dã với những phong tục tập quán lạ kì, hoặc những hủ tục mông muội, thậm chí là man dợ của những con người và cộng đồng các DTTS. Nhà văn giống như một người du khách, một lãng tử muốn khám phá những miền đất còn hoang vu, chiêm ngưỡng những tộc người còn nhiều bí ẩn đối với những người miền xuôi, người thành phố - nên tác phẩm thường mang tính chủ quan, không chân thực, giàu tính tưởng tượng và thường được viết với bút pháp lãng mạn (chủ yếu để gợi trí tò mò của độc giả). Trước năm 1945, văn xuôi của tác giả người DTTS hầu như chưa xuất hiện. Từ sau 1945 với các chủ trương, định hướng và đường lối văn nghệ của Đảng, mảng văn học DTTS được quan tâm phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng, chất lượng tác phẩm và đã đạt được những thành tựu đáng kể ở thời kì này.
Ngoài một số tác giả người Kinh có những sáng tác về đề tài miền núi, dân tộc như: Nam Cao (Nhật kí ở rừng, 1948), Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, 1952; Cứu đất cứu mường, 1953), Nguyên Ngọc (Đất nước đứng lên, 1954)… thì đã xuất hiện một số tác phẩm của các tác giả người DTTS và từng bước họ đã gia nhập vào dòng chảy chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại - vốn trước đây chỉ là “độc quyền” của những cây bút người Kinh. Một thế hệ nhà văn người dân tộc đã được hình thành trong những năm 50 – 60 (thế kỷ XX) - khi miền Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ, miền Bắc xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Họ hầu hết là những trí thức DTTS thiết tha muốn đóng góp tiếng nói văn học của mình vào nền văn học chung của dân tộc Việt Nam bằng sức lực và tài năng của chính mình. Đó là các tác giả Nông Viết 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cách mạng, nhân dân và văn hoá dân gian chính là ba nguồn mạch cảm hứng chủ yếu nuôi dưỡng các cây bút văn xuôi người dân tộc thiểu số trong những năm tháng cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Sáng tác của họ luôn bám sát công cuộc cách mạng của dân tộc, thể hiện sâu sắc ý chí, tình cảm, tâm trạng của người dân miền núi trong những tháng ngày gian khổ đầy mất mát, hi sinh, nhưng cũng rất oanh liệt, oai hùng. Phạm vi đề tài phản ánh khá rộng, họ không chỉ viết về miền núi mà còn viết về miền xuôi, về miền Nam, thậm chí quan tâm cả tới những vấn đề có tính quốc tế, ngợi ca sự đổi đời của nhân dân các dân tộc và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của cả nước. Văn xuôi thời kỳ này chủ yếu viết về con người, quê hương miền núi.
Đây là giai đoạn mà ý thức về tiếng nói văn học của cộng đồng các DTTS đã phát triển khá mạnh mẽ. Họ háo hức khám phá với tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và cũng chính vì thế, văn xuôi DTTS Việt Nam đã dần được định vị và góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng (cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa) của đất nước, và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam thời kì hiện đại. Từ sau năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986, trong không khí hoà bình, xây dựng cuộc sống mới trên cơ sở đổi mới tư duy - văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh mẽ. Các tác giả người DTTS ngày càng đông đảo hơn và gặt hái được nhiều thành tựu sáng tác rực rỡ hơn.
Thời kỳ này văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận diện một cách rõ ràng, khẳng định nó như một thực thể riêng, độc đáo trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vào những năm cuối thế kỉ XX, ngoài những tác giả người Kinh vẫn không ngừng trăn trở về đề tài miền núi, dân tộc như: Mạc Phi, Xuân Thiều, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khắc Trường, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Phạm Duy Nghĩa…,thì đội ngũ những cây bút người dân tộc cũng đang được phát triển với một tốc độ nhanh chóng trên toàn quốc - không chỉ ở phía Bắc mà cả miền Trung, miền Nam của đất nước. Ở Tây Nguyên có Hlinh Niê (Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999). ,và Niê Thanh Mai (Êđê) với tập truyện Về bên kia núi(2007).; Ở phía Nam - lần đầu tiên xuất hiện văn xuôi của một số dân tộc như: Truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan (Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara.
Ở khu vực miền Trung xuất hiện các tác giả: La Quán Miên (Thái) với tập truyện Hai người trở về bản (1996)., Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003), Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005), Hà Thị Cẩm Anh (Mường) với Gốc gội xù xì. Ở vùng Việt Bắc và Tây Bắc, các tác giả người Tày luôn chiếm số đông bên cạnh các nhà văn của các dân tộc khác (Thái, Mông, Dao, Mường, Hmông…), ngoài các nhà văn như: Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Hà Lâm Kỳ., còn có Nguyễn Hữu Tiến, Đoàn Lư, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn, Đoàn Thị Ngọc Minh. Trong đó nổi bật là hiện tượng nhà văn Vi Hồng – nhà tiểu thuyết người dân tộc Tày, quê Cao Bằng, nhưng lập nghiệp và thành danh ở Thái Nguyên. Từ 1980 - 1997, tác giả Vi Hồng đã cho ra đời 14 cuốn tiểu thuyết: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đã rơi (1985), Vào hang (1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Lòng dạ đàn bà (1992), Dòng sông nước mắt (1993), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói (1993), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994), Đi tìm giàu sang (1995), Đọa đày (1997).
Ngoài ra ông còn có các tập truyện ngắn: Đuông Thang (1988), Người làm mồi bẫy hổ (1990), Thách đố (1995), 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường về với mẹ chữ (1997). Ông là một hiện tượng văn học rất đáng được trân trọng về sức làm việc phi thường và những hiểu biết về con người, phong tục tập quán, thiên nhiên miền núi mang đậm sắc thái Tày vùng Việt Bắc. Trong những sáng tác trên, có những tác phẩm khá xuất sắc thể hiện được bản sắc dân tộc và phong cách nghệ thuật của tác giả qua cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên và con nguời miền núi, qua cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật và lối tư duy nghệ thuật độc đáo. Theo nhận xét của PGS.TS Cao Thị Hảo trong bài viết “Bước đầu phác thảo diện mạo văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” thì: Thời kì này cũng đã có nhiều tác phẩm đã kết hợp được bút pháp tự sự theo kiểu truyền thống ảnh hưởng từ các sử thi, truyện cổ, truyện thơ.
với bút pháp văn xuôi hiện đại tạo nên sự đa dạng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu, trở thành “vườn hoa nhiều hương sắc”, làm phong phú bức tranh của đời sống văn học hiện đại nước ta, ví dụ như: Mã A Lềnh với bút kí Cao Nguyên trắng mang giọng điệu sôi nổi hào hứng đã ghi lại những đổi mới trên quê hương trong thời kỳ kinh tế thị trường với văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, linh hoạt, phong phú, quê hương miền núi hiện ra như một bức tranh với những nét hoa văn khác nhau nhưng luôn có gam màu chủ đạo là rực rỡ sôi động; Cao Duy Sơn với Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ…, đặc biệt là Đàn trời đã tái hiện một bức tranh xã hội phong phú với những mảnh đời và lối sống khác nhau ở miền núi. Tác giả đã miêu tả những xung đột trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi cá nhân với một ngòi bút tinh tế, sinh động, đậm chất hiện thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn.