Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài nghiên cứu. Đặc điểm văn hóa và kỹ thuật của trang phục truyền thống phụ nữ Lào Lùm tại địa bàn nghiên cứu. Sự biến đổi trong trang phục phụ nữ Lào Lim trong bối cảnh hiện nay ở Luang Prabang và giải pháp bảo ton, phát huy giá tri.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE DE TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu Như trên đã trình bay, nghiên cứu về văn hóa trang phục của tộc người nói chung và các khía cạnh cụ thể của trang phục như hoa văn, nghệ thuật trang trí, kỹ thuật, hay trang phục theo giới, theo bối cảnh văn hóa vv là một chủ đề khá kinh đến trong Nhân học, bởi trang phục là một trong những thành tố quan trọng biểu hiện nhiều đặc trưng văn hóa tộc người, thể hiện sự biến đổi của văn hóa tộc người. Trong quá trình tìm kiếm các nguồn tài liệu thứ cấp liên quan đến chủ đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thay một số khía cạnh nổi bật khi nghiên cứu về văn hóa trong phục của các tác giả đi trước như sau: Thứ nhất là xu hướng nghiên cứu lý luận về phương pháp tiếp cận trang phục như một thành tố văn hóa vật chat của cộng đồng/tộc người cũng như về đặc trưng nguyên liệu, nghệ thuật trang trí từng loại hình trang phục của mỗi tộc người. Nhà dân tộc học Xô Viết vĩ đại là S.Tocarep (1971: 34 trang) trong công trình kinh điền “Phương pháp nghiên cứu dân tộc học về văn hóa vật chat” đã khái niệm hóa trang phục là gì và cách nghiên cứu về trang phục băng phương pháp dân tộc học. Sau này phương pháp tiếp cận của Tocarep đã được các nhà dân tộc học Việt Nam vận dụng vào tiêu chí đặc trưng văn hóa tộc người trong quá trình điều tra, nghiên cứu, phân loại các thành phần tộc người ở Việt Nam trước năm 1979.
Nguyễn Văn Huy (1997: 98) khi mô tả về đặc điểm văn hóa mặc của người phụ nữ Lào nói chung ở Việt Nam đã chỉ ra rằng “phụ nữ Lào mặc váy thắt ngang ngực, buông ngang tầm bắp chân. Gấu vay thêu hoa hoặc đệt các loại hoa văn motip màu sắc tươi sáng rực rỡ. Áo nữ ngắn, đề hở phần ngực trên. Chiếc trâm bạc cài tóc hay khăn piêu đội đầu của người phụ nữ được chạm khắc hoặc thuê thùa khéo léo.
Nam phục Lào có nhiều nét tương đồng với người Thái”. Đặc biệt nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi (2003: 109-159; 468-530), mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về trang phục phụ nữ Lào truyền thống nhưng các nghiên cứu về hoa văn của ông trong cạp váy Mường và trang phục các dân tộc Ba na và Gia rai đã mang lại nguồn tri thức dân tộc học quý giá về phương pháp tiếp cận, giá trị văn hóa tộc người biéu hiện qua các loại hình motip hoa văn trang phục, từ đó gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu về hoa văn trang phục ở các tộc người khác, trong đó có hoa văn nữ phục Lào Lùm ở nghiên cứu này của tôi. Nhà dân tộc học nồi tiếng người Thái ở Việt Nam là Hoàng Lương đã nghiên cứu và giới thiệu khá nhiều các công trình về người Thái, trong đó Hoa văn Thái (1988:3) là một cuốn sách chuyên khảo giới thiệu về hoa mặt mặt phà và kỹ thuật mỹ thuật tài hoa của người Thái như lời giới thiệu cuốn sách đã viết: Tục ngữ Thái có câu: úp bàn tay nên hoa, ngửa bàn tay thành bông (khoăm mứ pên lải, hai mứ pên book). Câu đó ngợi khen đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của người phụ nữ Thái.
Từ đôi tay ấy, họ đã tạo ra biết bao sản phẩm quý giá và thiết thực cho đời sống tộc người. Đã từ lâu đời, những tam thé cam Thái nồi tiếng bởi nghệ thuật trang trí hoa văn. Trên những tam thé cam ấy, với kỹ thuật dét, thêu- chap ghép mảnh vải màu, phụ nữ Thái đã miêu tả tài tình sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên, điễn dạt những cảm xúc, tâm tư và mơ ước của mình bằng những họa cảnh, họa tiết hoa văn phong phú, đa dạng”. Khi so sánh mối quan hệ giữa nghệ thuật trang trí hoa văn trên sản phẩm dét của người Thái ở Việt Nam và người Lào, PGS.Hoàng Lương đã chỉ ra nhiều điểm chung như cả hai tộc người đều “có sản phẩm đệt bằng tơ và vải, gọi là "khít" hay "khuýt".
Người Thái ở Mường Tâc (Phù Yên, Sơn La) lại gọi là "nả phà Lào (mặt chăn Lào). Thật ra "mặt chan Lao" do các nghệ nhân Thái ở Việt Nam tự dệt, có tiếp thu cách dệt và trang trí của người Lao. Đó là những tâm vải được dệt từ sợi bông và sợi tơ tam (thông thường sợi dọc là sợi bông, sợi ngang là sợi tơ tam). Soi doc được nhuộm mau đò tươi, còn sợi ngang được nhuộm thành nhiều màu sắc khác nhau như xanh, đỏ, tím, vàng hoặc dé màu trắng hay màu vàng chanh của tơ tim”.
Trong những mô-típ hoa văn trên đây có mô-típ "mắt mi" rất phô biêh ở Lào và Thái Lan. Ở Việt Nam, các cụ già người Thái đều biết déh loại này. Trước kia, người Thái ở Việt Nam cũng có mô-típ này và gọi là "lái mắt mi" gồm những mô-típ hình trám nhỏ xếp liên tiếp nhau. Mô-tip "mắt mi" chủ yếu được trang trí trên cả tâm vai dé’ làm váy.
Hiện nay người Thái Việt Nam cũng trang trí m6-tip này trên nhiều loại sản phẩm, nhất là loại mặt chăn đen trắng (gọi là "nả phả Tày” - mặt chăn Thái). Nhung khi trang trí trên mặt chăn thì lại có tên gọi khác là "lái bọk ko đom" (hoa mướp trắng) chứ không gọi là "lái mắt mi". Tại sao có hiện tượng đó thi cho déh nay chưa có ý kiên nao có thé lý giải thỏa đáng được. Chỉ biết một điều là phong cách trang trí giông nhau, nhưng tên gọi khác nhau.
Một số các nghiên cứu tiêu biểu khác theo hướng này như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (2015) về Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Me kong-Tiếp noi và biến đổi, Lê Ngoc Thang (2015) về Nghệ thuật trang phục Thái cũng mang đến rất nhiều kiến thức dân tộc học cho ngành. Thứ hai, xu hướng nghiên cứu về trang phục truyền thống của một tộc người hay một nhóm tộc người tại một khu vực địa văn hóa nhất định. Có thé kế đến Lê Ngọc Thang (2012), Trang phục cổ truyền của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam; Võ Mai Phương (2012), Trang phục của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam, Đồ Thị Hòa (2014) Trang phục các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt — Mường và Tay — Thái, Trang phục các tộc người nhóm ngôn ngữ Kadai, Trang phục các tộc người nhóm ngôn ngữ Tạng — Miến.Xu hướng tiếp cận đã cung cấp kiến thức có hệ thống về lich sử trang phục cô truyền của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam, về cách thức tạo ra trang phục, các đặc điểm văn hóa qua trang phục, chỉ ra thực trạng biến đổi về trang phục của người Lào trong bối cảnh hiện nay và luận giải về những biến đổi đó, còn so sánh với trang phục của nhóm Thái đen, người Lu và người Thay Deng ở tỉnh Houaphan, nước CHDCND Lào; là tài liệu đầu tiên viết về văn hóa trang phục của người Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam (Võ Mai Phương, 2012) và đặc điểm văn hóa truyền thống có tính đối sánh của trang phục truyền thống người Thái ở khu vực Tây Bắc Việt Nam đến những biến đôi hiện nay (Lê Ngọc Thắng, 1991, 2012) Thứ ba là xu hướng nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa trang phục của tộc người với ngụ ý tìm kiếm các giải pháp phát huy giá trị văn hóa tộc người. Có thể kê đến một số các nghiên cứu tiêu biéu như Lê Anh Đức (2014) về Trang phục truyền thong hiện nay của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vac, tinh Ha Giang, Kiều Thị Thiên Trang (2015) về Bảo tôn và phát huy giá trị trang phục truyền thông người Sán Dìu tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Ngọc Lệ (2017) về Biến đổi trang phục truyền thống của người Hmong Hoa ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai.
Thứ tư là xu hướng nghiên cứu chuyên biệt về trang phục theo giới hay quá trình biến đổi của trang phục của tác giả Lào. Tiêu biểu có thé kế đến như Đuon Duonbunnhavong (1987) trình bày bài viết “Cái nhìn của người nước ngoài đối với tắm vải Lào” tại Hội thảo Sưu tập vải cổ Lào, Phụ nữ Lào và vải lua. Thoongvan Kotphumxa (1993) công bồ bài viết “Bước dau tìm hiểu trang phục của cô gái Lào”, Phoxay Xunalat (1995), “Trang phục của bộ tộc Phuon”, Thoongbay Phothitsan (1999), “Váy - tai sản được kế thừa từ me” trên tạp chí Vannasin. Thoongvan Kotphumxa (2016) nghiên cứu về bộ nữ phuc của người Lào Loum 1n trong bộ sách Tìm hiểu lịch sử văn hóa Lào (tập 3); Phathanason Phinphacdi (2015) nghiên cứu về Trang phục truyền thong của người phụ nữ dán tộc Lào ở huyện Xaythany, thu đô Viéng Chăn; Chanhmala Vongvillaikham (2016) về Giữ gin trang phục truyền thong của người dân tộc Tay Dam ở tỉnh Luang Namtha, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay.
Đó là các hướng tiếp cận nghiên cứu cơ bản về quá trình làm ra các sản phẩm, tập trung vào khâu chuẩn bị nguyên liệu và trồng cây bông và nuôi tăm, nghiên cứu và làm nôi bật những nét đặc trưng trong trang phục truyền thống của người dân tộc Tay Dam tại tỉnh Luang Namtha, Lào, phân tích sự biến đồi và đề xuất giải pháp giữ gìn trang phục truyền thống của người dân Lào. Thứ năm là các bài viết ngắn đính kèm hình ảnh về nét đẹp trang phục, con người, điểm đến gắn với quảng bá du lịch trên một số website của Lào và Việt Nam. Có thé dé dàng truy cập trên Internet thông tin tại website luangprabang.org mô tả tổng quan về trang phục của người Lào nói chung trong đời thường và khi lễ hội. Với phụ nữ, lúc nhỏ có thê để tóc dài hoặc cắt ngắn, nhưng từ 10 tuổi trở lên thường phải dé tóc dài dé búi lệch hoặc búi thang nhằm phân biệt cô gái đó đã có chồng hay chưa.
Khi bước vào tuổi trung niên, từ ngoài 50 tuổi trở đi, phụ nữ Lào thường hay cắt tóc ngắn với quan niệm về nhà thì phải ăn mặc giản di, làm gương cho con chau. Trên website của CLB người Việt Nam tại Luang Prbang! cũng giới thiệu những nét đặc sắc của trang phục Lào với nhận định trang phục truyền thống 1 https://www.org/cuoc-song-vi/net-dac-sac-trong-trang-phuc-truyen- thong-cua-lao/, truy cập ngày 25.2023 10 của Lào được may nhờ vào kỹ thuật dệt điêu luyện của người Lào.