CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Sinh khối là một trong những nguồn tài nguyên dồi dào, giá thành thấp và được xem là nguồn tiền chất để tổng hợp vật liệu trên cơ sở cacbon hoặc nhiên liệu sinh học có giá trị cao [1]. Sinh khối bao gồm tất cả các loại thực vật và dẫn xuất từ thực vật như gỗ và phế liệu từ gỗ, phụ phẩm công-nông nghiệp, phế phẩm của cây trồng làm vườn, thực vật biển (rong, tảo, v.) hoặc rác thải sinh hoạt, sinh khối vi sinh vật và kể cả phế phẩm chăn nuôi. Sự đa dạng, phong phú về loại sinh khối như thể hiện ở Bảng 1.1, cũng như tính bền vững và giá thành thấp làm cho sinh khối là một lựa chọn khả thi trong quá trình chuyển hóa để tạo ra các dạng năng lượng và nhiên liệu sinh học (ethanol, furfural, 5-hydroxylmethylfurfural, v.
Phế phẩm lâm nghiệp Rác thải sinh Nước thải hoạt công nghiệp SINH KHỐI Phể phẩm Bùn thải nông nghiệp Phế thải chăn nuôi Hình 1.1: Các loại sinh khối 2 Bảng 1.1: Phân loại dạng sinh khối và ứng dụng tiềm năng [2] Loại sinh khối Mẫu Hướng giải quyết Ứng dụng Chất thải rắn đô Rác thải sinh Thu gom, phân loại, Nhiên liệu sinh thị hoạt tái chế, tái sử dụng và học làm phân hữu cơ tiền xử lý Phụ phẩm nông Thân cây ngô, cỏ, Dùng làm nhiên liệu Nhiên liệu sinh nghiệp bã mía hoặc nguyên liệu, ủ học và phân bón phân, phân hủy kỵ khí hữu cơ Bùn thải Chất thải từ cống Phân hủy kỵ khí Khí đốt rãnh Phế phẩm chăn Phế phẩm từ Xử lý hiếu khí và kị Phân bón hữu cơ nuôi chăn nuôi gia súc khí Phế phẩm lâm Phế phẩm từ rừng Nhiệt phân, đốt và sấy Nhiên liệu sinh nghiệp học Phế phẩm công Thủy nhiệt Nhiên liệu sinh nghiệp học Phế phẩm từ Glycerol Chưng cất Ethanol sinh học, quá trình sản khí hydro xuất nhiên liệu sinh học Phế phẩm từ hải Chất thải từ hải Xử lý sinh học Dầu cá, collagen, sản sản omega-3, thức ăn cho vật nuôi, phân bón Phế phẩm từ Chất béo, Tiền xử lý, thủy phân Axit béo, ancol, quá trình lên protein, và lên men nhiên liệu cho quá men cacbonhydrat trình tinh chế sinh học và hóa sinh Chất thải từ quá Thức ăn thừa Tái chế, tái sử dụng, Nhiên liệu sinh trình chế biến xử lý sinh học như học, phân hữu cơ, thực phẩm phân hủy kỵ khí, lên hóa sinh và chất men và ủ phân hấp phụ sinh học 3 Hiện nay, có nhiều phương pháp để xử lý nguồn sinh khối này như đốt bỏ làm khí đốt, phân hủy kỵ khí để làm phân bón hữu cơ, tuy nhiên vẫn chưa xử lý triệt để. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi sinh khối thành nhiên liệu sinh học được xem là hướng tiếp cận tiềm năng để xử lý nguồn tiền chất này. Ngoài ra, phụ phẩm công-nông nghiệp với trữ lượng lớn, dồi dào và phong phú được tạo ra hàng năm. Tùy thuộc vào từng loại phụ phẩm, thành phần trong cấu trúc cũng tương ứng khác nhau, như thể hiện ở Bảng 1.2: Thành phần hóa học sinh khối Thành phần (% khối lượng) [4] STT Sinh khối Cellulose Hemicellulose Lignin 1 Thân ngô 50 20 30 2 Lõi ngô 36 34 18 3 Tre 41,8 18 29,3 4 Ngọn mía 43 27 17 5 Rơm rạ 36,2–47 19–24,5 9,9–24 6 Rơm lúa mạch 33,8–37,5 21,9–24,7 13,8–15,5 7 Trấu 37,1 29,4 24,1 8 Bã mía 35 35,8 16,1 9 Gỗ vân sam 43 29,4 27,6 10 Gỗ gẻ dai 44,2 33,5 21,8 11 Bã ớt sau thu 44,2 33,5 21,8 hoạch 12 Thân bông 38,4–42,6 20,9–34,4 21,45 Trong số phụ phẩm nông nghiệp kể trên, lõi ngô chứa hàm lượng cellulose 36 %, hemicellulose là 34 % và lignin là 18 %, được xem là nguồn nguyên liệu sẵn có và giá thành thấp [4].
Nhằm mục tiêu tổng hợp furfural với hiệu suất cao từ xylose có trong hemicellulose, do đó lõi ngô được lựa chọn làm nguồn vật liệu trong luận văn này. Lõi ngô Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây trồng có sản lượng lớn trên thế giới. Ở Việt Nam, sản lượng ngô chiếm thứ hai bên cạnh các cây lương thực và được trồng trải dài khắp cả nước. Cùng với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của người dân, sản lượng lớn phụ phẩm từ lõi, lá, thân và râu ngô ngày càng nhiều.
Hầu hết nguồn phụ phẩm sau quá trình thu hoạch và sản xuất, cụ thể là lõi ngô thường được đốt bỏ làm khí đốt hoặc chôn lấp làm phân bón hữu cơ, tuy nhiên vẫn chưa xử lý được triệt để. Do đó, việc tận dụng nguồn nguyên liệu từ lõi ngô để phát triển các sản phẩm có giá trị góp phần mang lại hiệu quả về mặt kinh tế là cần thiết. Bên cạnh đó, lõi ngô có cấu tạo gồm 3 thành phần chính: cellulose, hemicellulose và lignin như thể hiện ở Hình 1. Hemicellulose Cellulose Sinh khối Lõi ngô Cây ngô Lignin Hình 1.2: Cấu trúc của lõi ngô 1.
Thành phần cấu trúc Hầu hết các nguồn sinh khối từ thực vật đều có cấu trúc phức tạp. Thành tế bào của sinh khối thường bao gồm thành sơ cấp và thứ cấp, sự hiện diện của thành tế bào này phụ thuộc vào thời gian hình thành của tế bào thực vật. Polysaccharide như cellulose, hemicellulose và pectin có nhiều trong thành sơ cấp, lúc này các vi sợi tương tác tạo ra mạng lỏng lẻo và không đều. Trong khi đó, thành tế bào thứ cấp tương đối dày hơn vì tế bào thực vật trải qua quá trình phát triển, do đó thành phần tế bào thứ cấp chứa thêm lignin.
Thành tế bào thứ cấp bao gồm một lớp mỏng bên ngoài, 5 lớp giữa dày, lớp bên trong mỏng với hemicellulose là thành phần cơ bản, như thể hiện ở Hình 1. Tế bào thực vật Bó sợi Vi sợi Cellulose Hemicellulose Lignin Hình 1.3: Thành phần cấu trúc của lõi ngô 1. Lignin Lignin là một polyme không chứa cacbohydrate được tạo thành từ các polyme thơm và được cho là thành phần gây khó khăn trong việc phân hủy sinh khối. Dựa vào sự khác biệt của nhóm methoxyl, lignin có thể được phân thành 3 loại: guaiacyl (G), syringyl (S) và hydroxylphenyl (H), như thể hiện ở Hình 1.
Lignin kị nước và không thể hòa tan trong nước do trong cấu trúc chứa vòng thơm [6]. Lignin liên kết chặt chẽ với hai thành phần còn lại là cellulose và hemicellulose, cung cấp độ cứng và khả năng chống chịu cho thành tế bào thực vật [7]. Đây được xem là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình chuyển đổi sinh khối. Lá chắn phức hợp lignin- hemicellulose tạo thành một lớp phủ bảo vệ để bao bọc vi sợi cellulose và ngăn chặn khỏi sự tấn công của vi sinh vật.
Ngoài ra, thành phần nhỏ của thành tế bào có pectin là glycan có cấu trúc phức tạp nhất, là một trong những yếu tố tạo nên tính bền và vững chắc của thành tế bào. Bên cạnh đó, lignin và polysaccharide trong cấu trúc sinh 6 khối tự nhiên được liên kết với nhau bằng mạng lưới liên kết hydro yếu và cộng hóa trị mạnh với benzyl ester, benzyl ether và nhóm chức phenyl glycoside.4: Cấu trúc của lignin 1. Cellulose Cellulose có công thức cấu tạo (C6H10O5)n hay [C6H7O2(OH)3]n được cấu tạo bởi các đơn phân monome D–Glucose liên kết với nhau bằng β–1,4–glycosidic được thể hiện như Hình 1. Mỗi D–glucose được sắp xếp lặp lại thành từng disaccharide và ngược hướng nhau (mỗi phân tử glucose xoay 180o so với phân tử bên cạnh) tạo thành chuỗi β–1,4–glucan thẳng, không phân nhánh với mức độ trùng hợp từ 5000–15000 phân tử như thể hiện ở Hình 1.
Một số chuỗi cellulose sắp xếp đều đặn thẳng hàng và liên kết với nhau nhờ cầu nối hydrogen (giữa các nhóm hydroxyl) và lực Van der Waals để tạo thành vùng tinh thể lớn và một số chuỗi nhỏ phân tán thành vùng vô định hình. Cấu trúc tinh thể kết hợp với nhau để tạo thành bó hoặc vi sợi (40–70 chuỗi), do đó tăng cường khả năng chống lại sự phân hủy của vi sinh vật [8]–[10].5: Cấu trúc của cellulose 1. Hemicellulose Hemicellulose được cho là thành phần phong phú thứ hai của sinh khối sau cellulose. Tuy nhiên, không giống như cellulose gồm các đơn vị monome đồng nhất về mặt hóa học, hemicellulose là một nhóm polysaccharide gồm một mạch thẳng (chủ yếu là mạch thẳng xylan) và mạch phân nhánh được tạo thành từ đơn vị pyranose và furanose như xylose, mannose, arabinose và axit galacturonic được liên kết với nhau bằng β–1,4–D–glycosidic, như thể hiện ở Hình 1.
Thành phần, cấu trúc và khối lượng hemicellulose thu nhận có thể khác nhau tùy thuộc vào loại sinh khối. Hemicellulose thường phân bố trên bề mặt của vi sợi cellulose và được xem là tác nhân liên kết giữa cellulose và lignin, do đó làm tăng thêm độ cứng cáp cho thành tế bào [7], [9], [11]. Xylan được xem là khung cacbon tạo nên cấu trúc của hemicellulose, được cấu tạo bởi sự lặp lại của các tiểu đơn vị xylose (poly-xylose) liên kết với nhau bằng β–1,4 tạo thành mạch thẳng là homo-xylan. Trong khi đó, mạch nhánh được gọi là hetero- xylan biểu thị cho sự có mặt của các gốc đường phân nhánh khác.
Đường phân nhánh trong hetero-xylan bao gồm L-arabinofuranose được liên kết với vị trí C–3 của gốc xylose, những hetero-xylan này được ký hiệu là arabinoxylan hoặc của axit D– glucuronic hoặc dẫn xuất metyl như axit 4–O–metyl–D–glucuronic, được liên kết với vị trí C–2 của gốc xylose, được ký hiệu là glucuronoxylan và/hoặc một hỗn hợp của cả hai loại đường, được ký hiệu là arabinoglucuronoxylans. Mức độ và loại đường phân nhánh trong hetero-xylan khác nhau tùy thuộc vào nguồn thực vật. Xylan của 8 một số loại gỗ cứng được acetyl hóa ở vị trí C–2 hoặc C–3 và/hoặc ở cả hai vị trí này trên xylose. Bên cạnh đó, xylan và lignin thường được liên kết thông qua liên kết cộng hóa trị để tạo thành phức hợp lignin-cacbohydrate.
Trong trường hợp của glucuronoxylan, các liên kết chéo được hình thành giữa gốc axit 4–O–metyl–D– glucuronic và chuỗi aliphatic của lignin [12]. Arabinose Xylan 1 1 1 4 2 3 2 3 2 Xylose 1 1 1 (b) Hình 1.6: Cấu trúc của (a) hemicellulose và (b) xylose Nhìn chung, xylose là thành phần chủ yếu trong chuỗi xylan tạo thành cấu trúc hemicellulose của lõi ngô. Đây cũng được xem là tiền chất để tổng hợp furfural. Ngoài ra, cellulose cũng được xem là nguồn tiền chất để tổng hợp vật liệu trên cơ sở cacbon.
Do đó, việc chuyển đổi hoàn toàn được hai nguồn xylose và cellulose sẵn có trong lõi ngô thành furfural và vật liệu trên cơ sở cacbon là cần thiết. Tuy nhiên, do sự phức tạp của quá trình chuyển đổi sinh khối và những thách thức về mặt kỹ thuật là những trở ngại cản trở việc thương mại hóa sản xuất furfural.