Chương 1: Khái niệm và quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. NOI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA QUY DINH VE TOI LAM DUNG TIN NHIEM CHIEM BOAT TAI SAN 1.1 Khái niệm tội lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tai sản Để phân tích khái niệm tội LDTNCDTS, tác giả đi vào phân tích ban chất cụm từ tạo nên khái niệm. Cu thé: Theo từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Long do Viện ngôn ngữ xuất bản năm 2008 định nghĩa: - Lam dụng là sử dụng quá mức, quá quyền hạn cho phép Ví dụ : Lam dụng quyên hành dé sách nhiễu, gây khó khăn cho người khác'.
- Tín nhiệm là tin cậy ở một nhiệm vụ cụ thể nào đó Ví dụ: Cán bộ được sự tín nhiệm hoặc mat tín nhiệm từ Nhân dân”. - Chiém đoạt là chiếm của người làm của minh, bang cách dựa vào vũ lực, quyền thế Ví dụ: Chiếm đoạt nhà ở của người khác”. - Tài sản là của cải vật chất dùng dé sản xuất hoặc tiêu dùng Ví dụ: Tài sản của công dân”. Qua định nghĩa của từ điển tiếng Việt, ta có thể hình dung được khái niệm đơn giản nhất của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc của một người, tô chức lợi dụng sự tín nhiệm của người khác với bản thân và bang cách dựa vào vũ lực, quyền thế của bản thân nhăm chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tô chức vi phạm quy định của Bộ luật hình sự.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định lần đầu tiên tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng ' Hoang Long, (2008), Tir điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ xuất bản, tr. * Hoàng Long, (2008), Tir điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ xuất ban, tr. > Hoàng Long, (2008), Tir điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ xuất bản, tr. * Hoàng Long, (2008), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ xuất bản, tr.
10 tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng chỉ đến khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành thì Tội này mới được quy định khá chặt chẽ và cụ thê tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, Cụ thể: “ 1 Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4000000 đồng đến dưới 50000000 dong hoặc dưới 4000000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài san có gia trị đặc biệt về mặt tinh than đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản cua người khác hoặc nhận được tài sản cua người khác bằng hình thức hợp dong roi dùng thủ đoạn gian doi hoặc bỏ tron chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có diéu kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp dong va đã sử dung tài sản đó vào mục dich bắt hợp pháp dân đến không có khả năng trả lại tài sản” Tội LDTNCDTS được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu Theo quy định ở Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, b6 sung năm 2017), tội phạm này người phạm tội không dùng bat cứ thủ đoạn nao dé lấy tài sản từ trong tay của chủ sở hữu chỉ sau khi nhận được tài sản một cách ngay thắng từ chủ sở hữu thông qua các giao kết hợp pháp, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt Băng các biểu hiện khác nhau, họ thê hiện sự chiêm đoạt của mình có thê là bỏ trôn, đên hạn trả lại tài 11 san mac du co kha nang, diéu kién ma cé tinh không trả, dùng thu đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, sử dụng tài sản vào mục đích hợp pháp dẫn đến không có khả năng dé trả lại tài sản Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đối, bổ sung năm 2017) đã quy định chi tiết các dấu hiệu pháp ly trong cấu thành tội phạm này một các cụ thé, day đủ, chính xác hon, điều này được thé hiện tại văn ban giải đáp bởi Hội đồng thâm phán Tòa án Nhân dân tối cao ngày 09/01/2019, thể hiện được tính hoàn thiện về mặt hành vi của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản so với quy định tai Bộ luật hình sự năm 1999 như sau: “So với quy định tại điểm a khoản 1 Điễu 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a khoản I Điểều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bồ sung thêm tình tiết “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có diéu kiện, khả năng nhưng cổ tình không trả”. Như vậy, người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích xin vay vốn nhưng không sử dung tài sản đó vào mục đích bat hợp pháp (buôn lậu, rửa tiên, sản xuất, buôn bản ma túy.) mà đùng vốn vay để tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đô dùng, phương tiện di lại.) dan đến khi đến hạn họ không có điều kiện, khả năng trả nợ thì không coi là sử dung tài sản vào mục dich bất hợp pháp dan đến không có khả năng trả lại tài sản để xử ly trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp đến thời hạn trả lại tài sản mà họ có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả (có nhà, đất dai, tài sản nhưng cháy ì, tau tán hoặc có hành vi chong đối lại việc kê biên, thu hôi tài san. ) thì bị xử lí trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểu 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ”Ÿ.
Vậy từ những quy định trên, tác giả đưa quan điểm về định nghĩa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được ° https://thads.vn/khanhhoa/noidung/tintue/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=40, truy cap ngay 23/09/2023. 12 tài sản của người khác băng các hình thức hợp đồng khác nhau rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; Hoặc đến thời hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cô tinh không trả hoặc sử dụng tải sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản và do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cô ý. Từ khái niệm trên, tác giả phân tích những đặc điểm của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Thứ nhất về căn cứ pháp lý: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đôi bố sung năm 2017 Ngoài ra không có một văn bản nào quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ngoài Bộ luật hình sự. Thứ hai về ý thức chiếm đoạt tài sản: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ xuất hiện sau khi có giao dịch hợp pháp, tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới nảy sinh ý định và hành vi chiếm đoạt Bởi sau khi có được tai sản, ý thức người phạm tội nay sinh, từ đó thực hiện các hành vi thủ đoạn khác nhau dé chiếm đoạt tài sản.
Thứ ba về hình thức phạm tội: Như đã phân tích phần khái niệm, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bắt đầu có những hình thức giao dịch hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn déchiém đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cô tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Hình thức phạm tội là lợi dụng những giao dịch hợp pháp được pháp luật về dân sự cho phép các bên thực hiện giao dịch và đặc biệt là giao dịch này phải gắn liền với tài sản thì mới nay sinh được hành vi chiêm đoạt tai sản. 13 Thứ tư về gia trị tài sản: Tội lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Tài sản chiếm đoạt từ 4.000 đồng đến dưới 50.000 đồng: Hoặc dưới 4.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định tại khoản 1, Điều 175 BLHS 2015, việc quy định giá tri tài sản phạm tội là một đặc điểm khác biệt nhằm phân biệt được với các tội chiếm đoạt tài sản khác theo quy định của Bộ Luật hình sự, bởi như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì giá tri tai sản chỉ từ 2.000 đồng là đủ cấu thành tội phạm hình sự. Nếu như có hành vi gian dối thì hành vi này luôn phải thực hiện sau thời điểm chuyền giao tài sản.
Thứ năm về thủ đoạn thực hiện tội phạm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phát sinh hành vi phạm tội sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn hoặc sử dụng các hành vi khác nhau nhằm mục đích không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hoặc dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp, mặc dù người phạm tội có đủ điều kiện và khả nangdé trả lại tai sản hoặc thanh toán tài sản cho bi hai nhưng ho không thực hiện.