CHƯƠNG 1 VAT LIEU PEROVSKITE MANGANITE 1. Vật liệu perovskite có công thức hoá hoc ABO; với A là kim loại đất hiếm hoặc kim loại kiềm thé và B là kim loại chuyền tiếp, đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu trên thế giới từ nhiều năm qua cả về mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm. Khi thay thế các cation kim loại thích hợp cho thành phần A hoặc thành phần B, mô tả bằng công thức hoá học AixA?,B¡ivB)/O; (trong đó A’, B’ là các kim loại thay thé) thì tính chất của vật liệu thay đổi mạnh, đặc biệt là tính chất điện và tính chất từ [117]. Trong trường hợp không pha tạp thi perovskite ABO; họ Manganite thường là phản sắt từ điện môi (AFMI).
Khi có sự pha tạp lỗ trồng hay điện tử vào vi tri A thì các tính chất điện - từ của perovskite ABO; thay đổi trong khoảng rất rộng: về mặt từ tính có thể từ phan sắt từ (AFM) đến sắt từ (FM) và tính chất điện có thé từ điện môi (I đến kim loại (M). Perovskite có pha tạp, dưới tác dụng của các điều kiện vật lý bên ngoài như nhiệt độ, từ trường, áp suất. có thé có các chuyên pha vật lý vô cùng lý thú và tạo ra những khả năng to lớn có thể đưa vào ứng dụng trong thực tế như chuyên pha kim loại điện môi (MIT), hiệu ứng từ trở không lồ (CMR), hiệu ứng từ nhiệt lớn (GMCE), hiệu ứng nhiệt điện (TEE), hiệu ứng thủy tinh spin (SG) [1] và chuyên pha trật tự điện tích (CO). Các chuyên pha trong vật liệu perovskite ABO; nay thé hiện mối quan hệ hết sức chặt chẽ và tinh tế giữa các bậc tự do của điện tích, quỹ đạo va spin của các điện tử trong mang tinh thé và sự biến dang của mang tinh thé.
Phần lớn các công trình nghiên cứu trong thời gian qua về perovskite ABO; tập trung vào hệ kim loại chuyên tiếp 3d mà cụ thé là các hợp chat manganite và cobaltite (B = Mn, Co) [118]. Trong chương nảy nêu những nét khái quát nhât vê môi quan hệ giữa câu trúc 16 tinh thé, cau trúc điện tử và tính chất điện - từ, các hiệu ứng điện - từ - nhiệt nổi bật của các perovskite từ tính mà chủ yếu là các perovskite manganIte.Vật liệu perovskite sắt từ. Cau trúc perovskite A ABO; lý tưởng a=b=c, a=B=y =90" Hình 1. Cấu tric perovskite ly tưởng.
Vật liệu perovskite lý tưởng có cấu trúc lập phương như hình 1.1, trong đó cation A* là kim loại đất hiếm, cation B® là kim loại chuyền tiếp (thường là Mn nếu là perovskite nền Mangan hoặc Co nếu là perovskite nền Coban). Về mặt hình hoc, perovskite ABO; lý tưởng thuộc nhóm không gian Pm3m được biểu diễn dưới dang 6 cơ sở như hình 1. Trong 6 cơ sở, các cation A chiếm vi trí ở các đỉnh (gọi là cation vi tri A), cation BTM ở tam (gọi là cation vị trí B), còn các anion O* ở tâm các mặt của hình lập phương. Cation vị tri A phối vị với 12 ion oxy ở lân cận gần nhất, còn cation vị trí B phối VỊ VỚI 6 ion oxy.
Với cách phối vị như vậy, các cation vị trí A thường có kích thước lớn hơn so với các cation vị trí B và xấp xỉ với kích thước anion O” [29]. Phối vị 12 là số phối vị của lớp cầu mạng lập phương tâm mặt xếp chặt trong kim loại, với đặc trưng lực liên kết yếu hướng theo trục nối các nguyên tử. Da diện AO, của perovskite cho dù không xếp chặt hoàn toàn nhưng lại hợp lý nhất về mặt hình học. Cation vị trí A với bán kính lớn bắt buộc phối vị với 12 anion O“ làm 12 liên kết A-O thường dài và tương đối yếu.
Do đó dao động tự do dọc theo trục liên kết sẽ dễ dàng hơn so với các liên kết mạnh trong mạng tinh thé. Các cation vị trí A đao động dang hướng trong khi các 17 anion O* đao động di hướng mạnh [44]. Cation vi trí B với ban kính nhỏ hơn cation vi trí A tạo nên hình bát diện có sỐ phối VỊ 6 VỚI anion OZ trong không gian. Khối bát diện BO, có 6 liên kết mạnh hướng dọc theo 6 bán trục ngắn của bát diện này.
Các tương tác mạnh này giúp giữ nguyên đơn vị cấu trúc bát diện ngay cả khi cấu trúc perovskite bị méo. Liên kết chặt dọc theo trục B-O làm dao động của nguyên tử O luôn ở trong mặt trực giao với hướng này. Do đó mức độ tự do của anion O” tương ứng với sự quay của bát diện BO, quanh cation BỶ” ở vị trí trung tâm [36]. Trong cấu trúc đó, các cation B® có các quỹ đạo điện tử lớp d không day (d'”") và có momen từ tự phát do các spin sắp xếp song song.
Trong cấu trúc bát điện BO,, ion B®” đứng trong trường tinh thể bát diện tạo bởi các ion Oxy. Sự tương tac tĩnh điện giữa các ion kim loại chuyền tiếp BỶ và trường bát diện tạo bởi các ion O7 dẫn tới sự tách mức năng lượng của các điện tử lớp d, do suy biến quỹ đạo bậc 5 va ảnh hưởng đến sự sắp xếp điện tử trên các mức năng lượng này.2 là sơ đồ tách mức năng lượng của ion Mn”” trong cấu trúc của perovskite nền Mn. y 2) em Ƒ—-= y a / / Pay =ễ= | z = Đ if % x d 2 / — 872 - [2 — / N y 327 =r ?~ y x —\ ty, orbitals y yz Mn+ Mn3t a, Trong nam quy dao d co ba quy b, Cac quy dao d cua cac kim loai đạo t›„ và hai quỹ dao ey chuyển tiếp gồm năm kiểu sắp xếp tương ứng. Sơ đồ tách mức năng lượng của ion Mn*TM trong tinh thé perovskite.
18 xét các quá trình tách mức năng lượng của nguyên tử Mn trong trường tính thé này. Đối với một nguyên tử tự do, các điện tử quỹ đạo có cùng số lượng tử chính n không suy biến và có cùng một mức năng lượng. Tuy nhiên dưới tác dung của trường tinh thé bát diện (do các ion O” ở đỉnh bát diện sinh ra), các quỹ đạo d của các ion kim loại chuyển tiếp được tách ra thành những mức năng lượng khác nhau. Lớp vỏ điện tử 3d của nguyên tử Mn có số lượng tử quỹ đạo / = 2, số lượng tử từ m = 0, +1, +2, tức là có năm hàm sóng quỹ đạo (5 orbital, hình 1.
Các quỹ dao này được ký hiệu là d_. Do trường tinh thé là đối xứng nên các điện tử trên các quỹ dao d d,. chịu một lực đây cua các ion âm như nhau do vậy có năng lượng như nhau - gọi là mức thâp tg, còn các điện tử trên các quỹ đạo đ., và đ, „ cting chiu yo cùng một lực day nên cũng có cùng một mức năng lượng - va gọi là mức cao e, , năng lượng tách mức này vào khoảng IeV (hình 1. Theo lý thuyết Jahn — Teller, một cấu trúc phân tử có tính đối xứng cao với các quỹ đạo điện tử suy biến sẽ phải biến dang dé loại bỏ suy biến và làm giảm tính đối xứng tức là giảm năng lượng tự do.
Hiệu ứng Jahn — Teller (JT) xảy ra trong một ion kim loại chứa số lẻ điện tử ở mức e„. Xét trường hợp của ion Mn” trong trường bát diện với cau trúc điện tử 3d* (2,1). Mức ¿‡„ là suy biến bội 3 và chứa 3 điện tử nên chỉ có một cách sắp xếp duy nhất là mỗi điện tử nằm trên một quỹ đạo khác nhau. Tuy nhiên mức e, là mức suy biến bội 2 mà lại chỉ có một điện tử nên sẽ có hai cách sắp xép khả dĩ là d',d°, Zo , hoặc x-yˆ 1 0 đ, ,d;.
xế y“ Z Nếu theo cách sắp xếp thứ nhất (d!.d°,_,) thì lực hút tĩnh điện giữa các ion ligan Oxy với ion Mn” theo trục z sẽ yếu hơn so với trên mặt phẳng xy, điều này sẽ dẫn đến độ dài các liên kết Mn — O không còn đồng nhất như trong trường hợp perovskite lý tưởng. Ta sẽ có 4 liên kết Mn — O ngắn trên 19 ` ° yy’ — et > 2) ¬a `Z 5 C a, Méo mang kiéu I. b, Méo mang kiểu II. Méo mang Jahn-Teller.
mặt phang xy và 2 liên kết Mn — O dai hơn trên trục z. Trường hợp này là méo mạng Jahn — Teller kiểu I. Nếu theo cách sắp xếp thứ hai (2đ,) thi lực hút tĩnh điện giữa các ion ligan Oxy với ion Mn”” theo trục z sẽ mạnh hon so với trên mặt phẳng xy. Trong trường hop này ta sẽ có 4 liên kết Mn — O dai trên mặt phang xy và 2 liên kết Mn — O ngắn hơn trên trục z.
Ta gọi trường hợp này là méo mạng Jahn — Teller kiểu II. Như vậy méo mạng Jahn — Teller sẽ biến cấu trúc lập phương lý tưởng (cubic) của các perovskite thành cấu trúc trực giao (rhombohedral). Day là hiệu ứng vi mô nên khi quan sát vĩ mô ta sẽ không thấy được các méo mạng này. Đồng thời do liên kết đàn hồi giữa các vi trí méo mạng mà hiện tượng này thường mang tính tập thể.
Nếu trong vật liệu chỉ tồn tại một trong hai kiểu méo mạng thì ta gọi đó là hiện tượng méo mang Jahn — Teller tinh, va là méo mang Jahn — Teller động nếu trong vật liệu tồn tại cả hai kiểu méo mạng trên vì chúng có thé chuyền đổi qua lại lẫn nhau. Như vậy vật liệu biến dạng tuân theo hiệu ứng Jahn — Teller để khử suy biến. Cũng chính vì biến dạng này (biến dạng mang tính vi mô) mà vật liệu sẽ không còn biến dạng phân cực (biến dạng vĩ mô) như vật liệu sắt điện và chính vì vậy mặc dù có cùng cấu trúc nhưng perovskite sắt từ và sắt điện có các tính chất khác han nhau. Các tương tác trong perovskite.
Goodenough là người đầu tiên đã giải thích khá toàn diện tính chất điện - từ của perovskite manganite [34]. Do đặc điểm cau trúc tinh thé bao gồm các bát điện MnO, chung nhau ở đỉnh va có khoảng cách tương tác ngắn nhất, nên tương tác chủ yếu trong perovskite manganite là tương tác cation-anion- cation (ví dụ Mn” - O - Mn’) với góc liên kết 180°. Các tương tác cation- cation, tương tác cation-anion-cation với góc kiên kết 90° và siêu trao đổi di hướng thường nhỏ, không có vai trò đáng ké trong các hiệu ứng vật lý hoặc không tồn tại đối với cau trúc perovskite ABO; nên không xét đến ở đây. Tương tác cation-anion-cation với góc 180° (tương tác siêu trao đôi — super exchange - SE) là một cặp bao gồm hai cation kim loại ở hai phía đối diện nhau của anion O”.