Luận án về tính chất lý hóa đất đỏ bazan và thâm canh cam ở Nghệ An

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu tính chất lý hóa đất và một số biện pháp thâm canh cam trên đất đỏ bazan ở phủ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2010

186
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tính chất đất đỏ bazan

Đất đỏ bazan là loại đất có nguồn gốc từ quá trình phong hóa của đá bazan, thường có màu đỏ đặc trưng. Tại Nghệ An, đất đỏ bazan chiếm một diện tích đáng kể và có nhiều đặc điểm nổi bật. Tính chất lý hóa của đất đỏ bazan ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây cam. Đất đỏ bazan thường có độ pH thấp, độ ẩm cao và khả năng giữ nước tốt, nhưng lại thiếu hụt một số chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Theo nghiên cứu, độ pH của đất đỏ bazan tại Phủ Quỳ thường dao động từ 4.5 đến 5.5, cho thấy đất có tính axit. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cam, vì cây cam yêu cầu độ pH từ 5.5 đến 6.5 để phát triển tốt. Việc bổ sung vôi và các loại phân bón hữu cơ là cần thiết để cải thiện tính chất đất và nâng cao năng suất cây trồng.

1.1. Đặc điểm lý hóa của đất đỏ bazan

Đất đỏ bazan có cấu trúc đất khá đồng nhất, với thành phần chủ yếu là sét và cát. Các nghiên cứu cho thấy, đất đỏ bazan có khả năng giữ ẩm tốt, giúp cây cam phát triển trong điều kiện khí hậu khô hạn. Tuy nhiên, đất cũng có thể bị thoái hóa do quá trình canh tác không hợp lý. Nghiên cứu của Buringh cho thấy, đất đỏ bazan thường chứa nhiều sesquioxit, nhưng lại nghèo dinh dưỡng. Điều này đòi hỏi nông dân cần áp dụng các biện pháp thâm canh hợp lý để cải thiện độ phì nhiêu của đất. Việc sử dụng phân bón hữu cơ và vô cơ một cách hợp lý sẽ giúp tăng cường chất lượng đất và năng suất cây cam.

II. Biện pháp thâm canh cam

Thâm canh cam trên đất đỏ bazan tại Nghệ An là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các biện pháp thâm canh bao gồm việc điều chỉnh lượng nước tưới, bón phân hợp lý và áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến. Nghiên cứu cho thấy, việc tưới nước đúng cách có thể cải thiện đáng kể sự sinh trưởng của cây cam. Cụ thể, lượng nước tưới từ 100 đến 150 m3/ha/lần là phù hợp cho cây cam trong giai đoạn sinh trưởng. Bên cạnh đó, việc bón phân kali, lân và vôi cũng cần được thực hiện theo đúng liều lượng để đảm bảo cây cam phát triển khỏe mạnh.

2.1. Kỹ thuật bón phân

Kỹ thuật bón phân là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất cây cam. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc bón 30 tấn phân chuồng, 1.100 kg CaO, 230 kg N, 150 kg P2O5 và 500 kg K2O cho mỗi ha là cần thiết để đảm bảo cây cam phát triển tốt. Ngoài ra, việc bổ sung các loại phân hữu cơ như khô dầu và xác mắm cũng giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng các biện pháp bón phân hợp lý không chỉ giúp tăng năng suất mà còn nâng cao chất lượng quả cam, từ đó tăng thu nhập cho nông dân.

III. Tình hình sản xuất cam tại Nghệ An

Tình hình sản xuất cam tại Nghệ An, đặc biệt là vùng Phủ Quỳ, đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù đất đỏ bazan có tiềm năng phát triển cây cam, nhưng năng suất và chất lượng sản phẩm vẫn chưa đạt yêu cầu. Theo thống kê, chu kỳ kinh tế của cây cam tại đây chỉ dưới 15 năm, do đầu tư chăm sóc không đáp ứng yêu cầu. Điều này dẫn đến năng suất thấp và hiệu quả kinh tế không cao. Để khắc phục tình trạng này, cần có những nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp thâm canh và cải tạo đất, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.1. Thực trạng sản xuất cam

Thực trạng sản xuất cam tại Nghệ An cho thấy, mặc dù có nhiều giống cam chất lượng cao, nhưng việc áp dụng kỹ thuật canh tác chưa đồng bộ. Nhiều nông dân vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống, dẫn đến năng suất không ổn định. Nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các biện pháp thâm canh như bón phân hợp lý, tưới nước đúng cách và chăm sóc cây trồng sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng cam. Cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc đào tạo kỹ thuật cho nông dân, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cam tại vùng đất đỏ bazan này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về ñất ñỏ bazan 1.1 Nghiên cứu về ñất ñỏ (Ferralsols) trên Thế giới Trên toàn cầu, ñất ñỏ (Ferralsols) có khoảng 750 triệu hecta, phân bố chủ yếu ở Nam Mỹ (Brazil), Châu Phi (Zaire, Nam Phi, Angola, Guinea, phía ðông Madagascar…), ðông Nam Á (Việt Nam, Indonesia…) (FAO, 1990) [98]. Khi nghiên cứu về Ferralsols trên Thế giới, Driessen P. và Dudal R (1989) [97] cho rằng Thế giới có khoảng 1 tỷ ha Ferralsols (FR), phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt ñới, tập trung nhiều ở Nam Mỹ, Trung Phi và một ít ở ðông Nam Á. Về quá trình phát sinh của Ferralsols, Driesen P.

(1989) [97] cho rằng, nước ảnh hưởng ñến các khoáng nguyên sinh thông qua các quá trình hidrat hóa và thủy phân. Trong quá trình thủy phân, ion H+ thấm vào cấu trúc silicat nguyên sinh của các khoáng như feldspar và chúng giải phóng các cation (K+, Na+, Ca++, Mg++). Do ion H+ quá bé so với bất kỳ cation nào mà nó thay thế nên cấu trúc của khoáng trở nên mềm yếu. ðiều ñó ñã làm cho Si và Al phân rã dễ dàng từ lưới sét.

FAO-UNESCO/ISRIC (1991) [99] ñề nghị tiếp các ñơn vị ñất phụ của Ferralsols theo thứ tự ưu tiên như sau: Gleyi-; Andi-; Epiandi-; Areni-; Geri-; Mollihumi-; Umbrihumi-; Humi-; Fibrihisti-; Terrihisti-; Molli-; Umbri-; Acri-; Lixi-; Endostagni-; Hypoandi-; Veti-; Alumi-; Niti-; Hyperferri-; Ferri-; Hyperdystri-; Hypereutri-; Rhodi-; Xanthi- và Orthi-. FAO/ISRIC/ISSS (1998) [108] trong bản Dự thảo Cơ sở tham chiếu về tài nguyên ñất Thế giới (WRB), ñã ñịnh nghĩa Ferralsols như sau: Ferralsols là ñất có tầng Ferralic xuất hiện ở một vài ñộ sâu trong vòng 30-200 cm kể từ 5 bề mặt; có phẫu diện ñồng nhất về tính chất khoáng học; nhưng có sự khác nhau về mức ñộ phong hóa, giàu bazơ và tích lũy chất hữu cơ ở tầng mặt. ISSS/ISRIC/FAO, WRB (1998) [102] cũng ñưa ra ñịnh nghĩa về tầng Ferralic như sau: Tầng Ferralic là tầng phải có: 1. Thành phần cơ giới là thịt pha cát hoặc mịn hơn và có dưới 90 % (theo khối lượng) sỏi, ñá hoặc ñá ong (kết von mangan-sắt); 2.

CEC (1 M NH4OAc - Amôn Axêtat) ≤ 16 cmol(+)/kg sét và ECEC (tổng các Bazơ có khả năng trao ñổi + ñộ chua trao ñổi) < 12 cmol(+)/kg sét; 3. Có < 10% sét phân tán trong nước, trừ phi vật liệu ñất có ñặc tính geric hoặc có > 1,4 % OC; 4. Có < 10 % khoáng có khả năng phong hóa trong cấp hạt 50-200µ; và 5. Không có ñặc tính ñể chẩn ñoán của tầng andic; 6.

ðộ dày tầng ñất phải ≥ 30 cm. Liên quan ñến ñất Ferralsols ở vùng nhiệt ñới và cận nhiệt ñới, cần kể ñến công trình nghiên cứu của Buringh. Ông cho rằng ñất Ferralsols là loại ñất ñiển hình của vùng nhiệt ñới ẩm và chiếm diện tích không nhiều; ñược hình thành thông qua quá trình feralit hóa, có sự rửa trôi silic. ðất có tầng dày hoặc rất dày, màu sắc tương ñối ñồng nhất, thường là màu ñỏ, ñỏ vàng hoặc vàng.

ðất Ferralsols ở vùng nhiệt ñới và cận nhiệt ñới thường chứa các sesquioxit với thành phần khoáng sét chủ yếu là kaolinit; các khoáng có khả năng phong hóa hầu như không có; ñất có các ñặc tính lý học tương ñối khá, trong khi ñó các ñặc trưng chỉ tiêu hóa học nghèo, dung tích hấp thu thấp. Buringh P ñã xác ñịnh nhóm ñất chính Ferralsols ở những khu vực này có 6 ðơn vị ñất, bao gồm: Orthic, Plinthic, Humic, Acric, Rhodic và Xanthic. Như vậy, cho ñến nay các quy ñịnh, ñịnh nghĩa về Ferralsols, tầng Ferralic, các cấp phân vị thấp hơn và thứ tự ưu tiên của chúng trong nhóm ñất chính của FAO-UNESCO cũng như của WRB ñã ñược hoàn thiện, cụ thể và chi tiết hơn.2 Những nghiên cứu về ñất ñỏ (Ferrasols) ở Việt Nam Ở Việt Nam, ñất ñỏ ñược hiểu là các loại ñất phát triển trên ñá macma bazơ và trung tính, ñất phát triển trên ñá vôi và một số ñất phát triển trên ñá biến chất. Có khoảng 3 triệu hecta ñất ñỏ ở nước ta, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, ðông Nam bộ và rải rác ở các tỉnh miền Bắc.

Liên quan ñến nghiên cứu về Ferralsols ở Việt Nam, cần kể ñến công trình nghiên cứu của Fridland từ những năm 50 thế kỷ trước Fridland (1962) [21], Fridland (1973) [22]. Khi nghiên cứu vùng ñất Phủ Quỳ theo phương pháp phát sinh Fridland ñã nêu ra các tính chất quan trọng nhất của ñất feralit (trong ñó có ñất ñỏ bazan) là: 1. Chứa rất ít khoáng vật nguyên sinh (ngoài thạch anh và một số khoáng rất bền khác). Nhiều hyñroxyt sắt, nhôm, titan và mangan, tỷ số SiO2/R2O3 và SiO2/Al2O3 thấp trong phần sét của ñất; tỷ số SiO2/Al2O3 thường dưới 2 và chỉ trong các trường hợp ñặc biệt lắm mới bằng 3.

ðất thường có chứa nhôm tự do (Al3+). Thành phần của sét gồm phần lớn là kaolinit, một số hyñroxyt sắt, nhôm và titan. Phần khoáng trong sét có khả năng trao ñổi thấp. Các ñoàn lạp có tính bền tương ñối cao.

Thành phần chất hữu cơ chủ yếu là axit fulvic. Sau khi FAO-UNESCO công bố chú dẫn bản ñồ ñất thế giới có chỉnh lý (FAO,1988), các nhà khoa học ñất Việt Nam ñã nhanh chóng cập nhật, nghiên cứu ứng dụng hệ phân loại ñất (PLð) ñất này ở nước ta. Tôn Thất Chiểu (1992) [12] ñã xác ñịnh ñất Ferralsols ở nước ta. Theo kết quả này, nhóm ñất Ferralsols có khoảng 3 triệu ha, chiếm gần 10% diện tích tự nhiên cả nước, phân bố rộng khắp vùng ñồi núi, phổ biến ở ñịa hình cao (ñộ 7 cao tuyệt ñối từ 50 m ñến 900; riêng ở miền Nam có thể lên tới 1.

Dự án “Chương trình phân loại ñất Việt Nam theo phương pháp quốc tế FAO-UNESCO” do Tôn Thất Chiểu chủ nhiệm, ñã xây dựng ñược hệ thống phân vị cho các loại ñất chính của Việt Nam. Theo ñó, ñất Ferralsols, có các ðơn vị ñất với ðơn vị ñất phụ sau: Rhodic FR (có các ðơn vị ñất phụ là: Hapli-, Epilithi-, Endolithi- và Umbri-) và Xanthic (ðơn vị ñất phụ là: Hapli-, Epilithi-, Endolithi- và Umbri-); Tôn Thất Chiểu (1995) [13]. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1997) [79], sau khi nghiên cứu ñất tỉnh ðồng Nai, ñã xác ñịnh Ferralsols ở ðồng Nai như sau: Có khoảng 95 ngàn ha, phân bố chủ yếu ở các dạng ñồi núi thấp, ít dốc ñến dốc vừa của các huyện Long Khánh, Thống Nhất, Xuân Lộc, ðịnh Quán. Các ñất Ferralsols ở ðồng Nai ñược hình thành từ các ñá mẹ bazơ hoặc trung tính, phân bố trong vành ñai khí hậu nhiệt ñới ẩm, quá trình phong hóa ñá và biến ñổi khoáng sét xảy ra nhanh và kiệt.; ñồng thời quá trình rửa trôi kiềm và tích tụ sắt nhôm xảy ra tương ñối mạnh mẽ.

Ferralsols ở ðồng Nai ñược chia ra các ðơn vị ñất và ðơn vị ñất phụ như sau: - Haplic FR (chỉ có 1 ðơn vị ñất phụ là: Epihyperferri-); - Xanthic FR (gồm 7 ðơn vị ñất phụ là: Acri-, Endolithiacri-, Epilithiacri-, Endoferri-, Epiferri-, Endohyperferri- và Epihyperferri-) - Rhodic FR (gồm 2 ðơn vị ñất phụ là: Endohyperferri- và Epihyperferri-). Vũ Cao Thái (1997) [64] cũng cho kết quả tương tự. Hội Khoa học ðất Việt Nam, (2000) [35] ñã nghiên cứu ñất Ferralsols ở nước ta. Theo kết quả này, nhóm ñất Ferralsols chiếm gần 10% diện tích tự nhiên cả nước, phân bố rộng khắp vùng ñồi núi, phổ biến ở ñịa hình cao (ñộ cao tuyệt ñối từ 50 m ñến 900 - 1.

Những ñặc ñiểm về phát sinh và nông học của ñất ñỏ vàng trên các nhóm ñá mẹ khác nhau ở các vùng khí hậu, 8 sinh vật khác nhau của nước ta biểu hiện rất ña dạng. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh một số ñặc ñiểm chung của nhóm ñất này là: Chua, ñộ no bazơ thấp, khả năng hấp thu thấp, khoáng sét phổ biến là kaolinit, axit mùn chủ yếu là fulvic, chất dễ hòa tan bị rửa trôi, có quá trình tích lũy Fe, Al tương ñối, hạt kết tương ñối bền. Trong khuôn khổ Dự án NIAPP/KUL “ðánh giá phục vụ quy hoạch sử dụng ñất và phát triển nông nghiệp bền vững tại miền Nam Việt Nam”, Berding F (1998) [89], ñã chia ñất ra các ñơn vị như sau: - ðối với vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột: Ở vùng cao, có các ñơn vị phân loại là: Acric, Vetic, Humic và Rhodic - tương ứng với ñất nâu ñỏ phát triển trên bazan; ở vùng thấp, có Acric và Xanthic FR với Endoskeletic và Episkeletic - tương ứng với ñất nâu vàng phát triển trên bazan (theo hệ PLð Việt Nam). - Vùng ñồi núi và cao nguyên M’Drak: ñất nâu vàng phát triển trên bazan ñược xếp theo các ñơn vị phân loại: Vetic, Humic, Xanthic và Haplic.

- Vùng Krong Ana-Srepok: Hai loại ñất nâu ñỏ và nâu vàng phát triển trên bazan ñược phân ra các ñơn vị sau: Acric, Vetic, Xanthic và Haplic. - Vùng cao nguyên ðak Nông-Dak Min: Có các ñơn vị phân loại: Acric, Geric, Lumic và Xanthic. Nhìn chung, ñất Ferralsols ở cao nguyên ðak Lak ñược phân chia khá nhiều ñơn vị phân loại. Theo Nguyễn Văn Lịch (1998) [41] ñã xác ñịnh Ferralsols ở Yên Bái như sau: Là ñất hình thành tại chỗ do sự phong hóa của các loại ñá macma bazơ hoặc trung tính và ñá vôi, có ñộ dốc trên 15O, tầng dày >130 cm.

Ferralsols ở Yên Bái có diện tích khoảng 12 nghìn hecta phân bố chủ yếu ở các huyện Trạm Tấu, Lục Yên, Văn Chấn. 9 ðất ñỏ ở Yên Bái có các ñơn vị và ñơn vị phụ ñất sau: - Rhodic FRr (có 2 ðơn vị ñất phụ là Hapli- và Endolithi-); - Xanthic FRx (cũng có 2 ðơn vị ñất phụ là Hapli- và Endolithi-). Hình thái phẫu diện ñặc trưng kiểu ABs hoặc ABsC. Trong ñó, tầng Bs (tầng tích tụ sắt, nhôm) có màu nâu ñỏ hoặc ñỏ vàng biến ñộng trong thang màu Munsell từ 10YR ñến 2,5YR.

Các ðơn vị ñất và ðơn vị ñất phụ như sau: Xanthic FR (ðơn vị ñất phụ: Acri- và Veti-) và Haplic FR (Acri-, Veti- và Hyperdystri-), Hồ Quang ðức (2002) [19]. Khi nghiên cứu ñất Bình ðịnh, Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt (1998) [14] ñã phát hiện Ferralsols và phân loại ra các ðơn vị ñất: Rhodic, Xanthic và Humic với các ðơn vị ñất phụ là Hapli-, Endoferri- và Endolithi- (Rhodic FR); Hapli- và Endoferri (Xanthic FR) và Molli Rhodi-, Endolithi Rhodi- và Endolithi Xanthi- Humic FR. Theo kết quả tổng hợp gần ñây nhất về các loại ñất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (2009) [5] cho thấy ñất ñỏ chủ yếu phân bố ở các vùng sau: Tây Nguyên, ñất ñược hình thành chủ yếu trên sản phẩm phong hóa của ñá bazan với tên là ðất nâu ñỏ trên sản phẩm phong hóa của ñá bazan (Ký hiệu là Fk) có diện tích khoảng 1.060,0 nghìn hécta và ñất nâu vàng trên sản phẩm phong hóa của ñá bazan (Fu): 223,1 nghìn hécta; phân bố hầu hết ở 5 tỉnh trong vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về tính chất lý hóa đất đỏ bazan và thâm canh cam ở Nghệ An" của tác giả Nguyễn Quốc Hiếu, dưới sự hướng dẫn của PGS. Hồ Quang Đức và PGS. Nguyễn Như Hà, được thực hiện tại Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội vào năm 2010. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các đặc tính lý hóa của đất đỏ bazan, một loại đất đặc trưng cho vùng Nghệ An, và các biện pháp thâm canh cây cam. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tính chất đất mà còn đề xuất các phương pháp thâm canh hiệu quả, từ đó giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp trong khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích, nơi nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, hay Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh, cung cấp các giải pháp phát triển nông thôn bền vững. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam, để nắm bắt các quy định và chính sách liên quan đến nông nghiệp và môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển bền vững.