Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải Dệt Ứng Dụng Phương Pháp In Lụa

Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp công nghệ may nghiên cứu tính chất cơ lý của vải dệt ứng dụng phương pháp in lụa, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho bài toán

Chuyên ngành

Công Nghệ May

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp

2024

135
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu. Giới hạn đề tài

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Bố cục đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Khái quát chung về kĩ thuật in lụa

2.2. Tìm hiểu về khuôn in

2.3. Tìm hiểu về bàn in và dao cạo

2.4. Khái quát về mực in

2.5. Khái niệm các tính chất cơ lý của vải

2.6. Tổng quan về mã màu CMYK và RGB

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH IN LỤA TẠI CÔNG TY NGÂN HỒNG PHÚC

3.1. Giới thiệu Công ty

3.2. Sơ đồ bộ máy sản xuất

3.3. Quy trình in lụa tại công ty Ngân Hồng Phúc

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT BỊ CỦA NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT CƠ LÍ CỦA VẢI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP IN LỤA

4.1. Lý do chọn mẫu

4.2. Các tiêu chuẩn thí nghiệm

4.3. Thiết bị thí nghiệm. Phương pháp thí nghiệm

5. CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

5.1. Đánh giá kết quả thí nghiệm độ giãn và độ đàn hồi của vải trước và sau khi in

5.2. Đánh giá kết quả thí nghiệm độ rũ của vải trước và sau khi in

5.3. Đánh giá kết quả thí nghiệm độ thông thoáng của vải trước và sau khi in

5.4. Đánh giá kết quả thí nghiệm độ ẩm của vải trước và sau khi in

6. CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG THÍ NGHIỆM

6.1. Hướng thí nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải Dệt

Nghiên cứu tính chất cơ lý của vải dệt ứng dụng phương pháp in lụa là một lĩnh vực quan trọng trong ngành công nghiệp dệt may. Vải dệt không chỉ là nguyên liệu chính trong sản xuất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cuối cùng. Việc hiểu rõ các tính chất cơ lý như độ thông thoáng, độ rũ, độ ẩm và độ đàn hồi của vải sẽ giúp cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

1.1. Khái niệm về tính chất cơ lý của vải

Tính chất cơ lý của vải bao gồm các yếu tố như độ bền, độ co giãn, và khả năng thấm hút. Những yếu tố này quyết định đến sự thoải mái và độ bền của sản phẩm may mặc.

1.2. Vai trò của phương pháp in lụa trong ngành dệt

Phương pháp in lụa cho phép in các thiết kế phức tạp lên vải với độ chính xác cao. Điều này không chỉ giúp tạo ra sản phẩm độc đáo mà còn nâng cao giá trị thương hiệu.

II. Vấn đề và Thách thức Trong Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải

Mặc dù ngành dệt may đang phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc nghiên cứu và đánh giá tính chất cơ lý của vải. Thiếu tài liệu tham khảo và công nghệ hiện đại là những vấn đề chính.

2.1. Thiếu tài liệu nghiên cứu

Việt Nam hiện chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về tính chất cơ lý của vải dệt, đặc biệt là sau khi áp dụng phương pháp in lụa. Điều này gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.

2.2. Công nghệ in lụa còn hạn chế

Công nghệ in lụa tại Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu thị trường. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất là cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải Dệt

Để nghiên cứu tính chất cơ lý của vải dệt, nhóm nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm thực nghiệm, quan sát và phân tích tài liệu.

3.1. Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm được sử dụng để đo lường các tính chất cơ lý của vải như độ thông thoáng và độ đàn hồi. Các thiết bị hiện đại được sử dụng để đảm bảo độ chính xác cao.

3.2. Phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu giúp nhóm nghiên cứu hiểu rõ hơn về các phương pháp in lụa và tính chất của các loại vải khác nhau. Điều này cung cấp cơ sở lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải Dệt

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp in lụa có ảnh hưởng đáng kể đến các tính chất cơ lý của vải. Các loại vải khác nhau thể hiện sự khác biệt rõ rệt về độ thông thoáng và độ rũ sau khi in.

4.1. Đánh giá độ thông thoáng của vải

Độ thông thoáng của vải dệt được đo lường trước và sau khi in lụa. Kết quả cho thấy một số loại vải giảm độ thông thoáng sau khi in, điều này cần được xem xét trong quá trình sản xuất.

4.2. Đánh giá độ rũ và độ đàn hồi

Độ rũ và độ đàn hồi của vải cũng được đánh giá. Kết quả cho thấy rằng một số loại vải giữ được độ đàn hồi tốt hơn sau khi in, điều này có thể ảnh hưởng đến sự thoải mái của người mặc.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp mà còn hỗ trợ cho công tác giảng dạy tại các trường đại học. Việc hiểu rõ tính chất cơ lý của vải sẽ giúp cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

5.1. Cung cấp thông tin cho doanh nghiệp

Các doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này giúp họ cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.

5.2. Hỗ trợ giảng dạy tại trường

Kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên ngành công nghệ may. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về tính chất của vải và ứng dụng của nó trong thực tế.

VI. Kết Luận và Hướng Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu tính chất cơ lý của vải dệt ứng dụng phương pháp in lụa là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển để nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện công nghệ in lụa và đánh giá các loại vải mới. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

6.2. Hướng phát triển bền vững

Cần phát triển các phương pháp sản xuất bền vững hơn trong ngành dệt may. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất sẽ giúp giảm thiểu tác động đến môi trường.

10/07/2025
Đồ án tốt nghiệp công nghệ may nghiên cứu tính chất cơ lý của vải dệt ứng dụng phương pháp in lụa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Nghiên cứu quy trình In lụa tại công ty Ngân Hồng Phúc. Chương 4: Phương pháp và thiết bị của nghiên cứu tính chất cơ lí của vải áp dụng phương pháp in lụa.

Chương 5: Đánh giá kết quả thí nghiệm. Chương 6: Kết luận và hướng thí nghiệm. SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 24 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái quát chung về kĩ thuật in lụa 2.

Phương pháp trang trí sản phẩm In lụa là một dạng kỹ thuật in trong đời sống. Nó sử dụng một bản lưới đơn giản vào việc in ấn. Bản lưới là một vật dạng lưới như vải sợi, vải lụa hoặc lưới. Lưới được trải trên giá bằng gỗ hoặc bằng kim loại.

Các mắt lưới được bịt kín bằng hoá chất chuyên dùng, chỉ chừa lại những chỗ có vân hoa (có chi tiết in) để cho mực thấm qua, in lên vật liệu in. Nguyên lý in lụa hoàn toàn giống như in mực dầu trên giấy nến. Việc trang trí và làm đẹp cho các vật liệu hay sản phẩm bằng màu sắc, hình ảnh nhằm làm tăng vẻ đẹp và giá trị cho chúng là công việc không thể thiếu trong lĩnh vực sản xuất. Các sản phẩm nói trên có thể được dùng bởi nhiều phương pháp nhuộm nhưng nó có nhiều hạn chế như: chỉ tạo được một màu trên toàn bộ bề mặt sản phẩm, chỉ có thể sử dụng trên một số ít vật liệu.

Và chúng ta sẽ tìm hiểu một phương pháp khác, cũng làm tăng vẻ đẹp và giá trị của sản phẩm, nhưng có thể tạo được đa dạng nhiều màu sắc và đường nét cũng như hoa văn trên một bề mặt sản phẩm và có thể sử dụng được trên đa dạng các loại vật liệu. Đó là phương pháp in lụa.1: Sử dụng in lụa trên đa dạng các vật liệu 2. In Lụa là gì? In lụa là một phương pháp in ấn thông minh đã và đang phát triển trên khắp cả nước, nhất là ở TP.Hồ Chí Minh có hơn 1500 cơ sở in lụa và vô số dịch vụ tư nhân. SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 25 In lụa là thành viên em út trong đại gia đình in ấn: Litho, Ronéo, Pédal, Typo, Offset, Rotative,… Tuy là “em út” nhưng sự phát triển của in lụa chẳng những theo kịp mà còn vượt mặt các “đàn anh” nhờ vào đặc tính đa năng, đa dạng và đa hình thể.

Đa năng In lụa in được trên hàng trăm chất liệu khác nhau như: giấy, carton, các kim loại (đồng, thau, nhôm, sắt, thép, thủy tinh), vải sợi, tơ lụa, da simili, gỗ, mica, nhựa,…. In trên hàng ngàn loại sản phẩm khác nhau như: bao bì, thiệp cưới, thùng, cặp sách, balo, ví tiền, lịch, v.v… tất cả đều được in dễ dàng. Đa dạng In lụa có thể dễ dàng tùy chọn độ dày mỏng của hình in, độ cứng, độ dẻo, dù hình to hay nhỏ tất cả đều in được dễ dàng. Đa hình thể Hình ống, hình quạt, hình tròn, hình xoan, hình dẹt, v.

với in lụa ngần ấy hình đều in được thoải mái. Với các tính năng đặc biệt và ưu thế vượt bậc trong lĩnh vực in ấn kết hợp với công nghệ khoa học ngày càng tiến bộ sẽ bổ sung thêm cho in lụa ngày càng phát triển hoàn thiện thể hiện lên với hàng ngàn sản phẩm đặc sắc với chất lượng cao. Ngoài đa năng, đa dạng in lụa hấp dẫn với tính năng nhanh chóng lấy liền của mình. Vài nét về từ “In Lụa” In lụa là tên gọi thông dụng do giới thợ đặt ra với mục đích chính là để phân biệt với các tên gọi khác trong ngành in ấn như: In Litho (thạch bản), In Typo, In Phun, In Kim, In Nóng,v.

In lụa, tên gọi này không quá chính xác vì tiếng Anh gọi là “SILK SCREEN PRINTING” hay tiếng Pháp gọi là “IMPRESSION SUR ECRAN DE SOLE” vì thế phải gọi là “In màn lưới” hay “In bằng màn lụa” vì trong cả tiếng Pháp lẫn Tiếng Anh đều có từ “màn” (Ecran và Screen). Tên gọi “In lụa” xuất phát từ xưa kia, bản lưới được dùng làm bằng chất liệu là tơ lụa, vì vải lụa có sức đàn hồi cả chiều dọc lẫn chiều ngang hơn nữa vật liệu này có độ bền khá cao. Thực ra, bản lưới của in lụa có thể dùng các vật liệu khác nhau như: vải bông, kim loại… để làm lưới. Đặc biệt, ngày nay chất liệu sợi hóa học được sử dụng làm bảng lưới có ưu thế cũng như độ bền cao hơn rõ rệt so với tơ lụa.

Vì vậy, tên gọi “In lụa” dần được mở rộng thành “In lưới”. Nguyên lí hoạt động SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 26 Về cơ bản, in lụa là phương thức in ấn dựa trên nguyên lý thấm mực. Phần mực in sẽ được đổ vào lồng khung và gạt qua lại bằng lưỡi dao cao su. Áp lực của dao gạt giúp một phần mực in thấm qua lưới và in lên vật liệu bên dưới để tạo thành hình ảnh mong muốn.

Những phần lưới không in sẽ được bao phủ bằng một loại hoá chất đặc biệt nhằm để tạo nên hình ảnh hoặc chữ. Trước đây in lụa được làm hoàn toàn bằng thủ công. Tuy nhiên với sự hỗ trợ của máy móc, thiết bị hiện đại, tân tiến, thì việc in lụa đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, nhanh chóng và có thể thực hiện với số lượng lớn.2: Mô tả chi tiết các bộ phận của khung in lụa 2. Lịch sử hình thành SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 27 Vào thời nhà Thanh, người Trung hoa đã phát minh ra “In bằng màn lưới”.

Họ lấy một thỏi đông nướng nóng, đạp cán cho mỏng rồi đục khoét “trổ” những chi tiết chữ hình cho mực xuyên qua bên trái, gọi là “rập”, lấy mực đậm phên lên “trổ” mực xuyên qua lưới thấm vào giấy “bích chương”. Với khả năng này thì đây là một kỳ công đáng kể so với thời bấy giờ.3: Các mẫu in lụa xưa Chưa dừng lại tại đó, với sự mày mò sáng tạo, họ đã chế bản “in bằng màn lưới” bằng cách đóng một khung cây gỗ và căng lưới dệt bằng sợi tóc lên rồi cắt chi tiết chữ, hình bằng giấy dán lên cách hoạt động cũng giống “In lụa”. Bây giờ những phương pháp và thể thức còn thô sơ. Đến năm 1885, ngành “In Lụa” bắt đầu lan truyền sang Châu Âu, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ và được cải tiến đáng kể.

Đầu tiên họ đóng khung khung gỗ chắc chắn không còn cong vênh, căng lụa thật thẳng, gắn thêm bản lề khung lụa trên bàn in, nhất là cách làm bản in cho bền chắc và sắc nét, v.v… Và thế giới biết đến in lụa là vào đầu thế kỉ XX. Nhưng sau đó bị khựng lại và dậm chân tại chỗ vì ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Mãi đến năm 1945, khi đã kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai thì in lụa mới đi vào công nghệ hóa và được nghiên cứu bởi các nước Châu Âu, Châu Mỹ. Thuỵ Sĩ đã chế tạo ra “Lụa” còn Anh, Đức chế tạo và sản xuất mực in chuyên dụng.

Mỹ thì sáng chế ra các loại Films SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 28 làm chế bản in. Pháp thì lại thành công về màu vẽ, nhũ tương làm chế bản thủ công, in bông trên vải sợi, tơ lụa.4: Nghiên cứu khung in ở Pháp Vào đầu thập niên 1950, Ông Phạm Đạt Tiết đã đem phương pháp làm “Chế Bản Lụa” để in trên vải sợi tơ lụa từ Pháp về Việt Nam mở xưởng in bông ở số 41 đường Võ Tánh Q.Nhì (nay là Nguyễn Trãi, Quận 1), chuyên gia công cho các hãng dệt vải trên khắp Sài Gòn - Chợ Lớn. Đôi nét về quá trình phát triển in lụa trên thế giới Người Châu Âu biết đến kỹ thuật này, kết hợp với nhiều tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển công nghiệp đã có rất nhiều tiến bộ, thành tựu lớn trong ngành in lụa (in lưới). Năm 1870, tại Pháp và Đức những nhà nghiên cứu đã làm những công trình nghiên cứu sử dụng vải tơ làm lưới in.

Năm 1907, tại Anh Quốc, quá trình làm lưới bằng các sợi tơ đã được sáng chế ra bởi Samuel Simo. Năm 1914, tại San Francisco, California, Mỹ, phương pháp in lưới nhiều màu đã được phát triển bởi John Pilsworth. Thế giới đã sử dụng kỹ thuật này để in hầu hết các loại sản phẩm như: in trên giấy, in trên bìa, in trên vải, in trên thủy tinh, in trên kim loại, in trên da…vào năm 1925. SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 29 Ngày nay, khi bước vào thể kỷ XXI - thời đại của Công nghệ thông tin, thời đại của Internet, thời đại của Toàn cầu hóa nhưng ngành in lụa ở tất cả các nước tiên tiến trên thế giới vẫn không ngừng nghiên cứu, phát triển ngành in lụa để phù hợp hơn với những nhu cầu thị trường mới.5: Thời kì công nghệ hóa In Lụa b.

Đôi nét về quá trình phát triển in lưới tại Việt Nam Ngành in lụa Việt Nam được hình thành vào năm 1950, đang từng bước đi lên mãi đến năm 60 thì mọi người mới quan tâm đến các mặt hàng in bông vải sợi tơ lụa với các mặt hàng quảng cáo. So với các nước Đông Nam Á khác thì bước tiến của chúng ta còn khá chậm. Đến thập niên 70, Ngành in lụa Việt Nam mới có những tiến bộ theo nhiều chiều hướng nhưng do trình độ kỹ thuật chưa cao, người in lụa không nhiều, chuyên viên còn quá ít, nên phát triển chưa mạnh. Từ năm 1955-1970 có ba nguồn đào tạo chuyên viên In Lụa là: Nguồn thứ nhất: Ông Phạm Đạt Tiết (1913-1962), được gọi là “ sư tổ” ngành in lụa Việt Nam.

Kỹ sư từ Pháp về mở cơ sở Thủ Công Mỹ Nghệ về In lụa ở số 41 Võ Tánh, Q. Một số đệ tử nối nghiệp ông: SVTH: Lâm Phú Cường-19109017 Ngành Công nghệ may Trần Thị Mỹ Xuân-20109120 Khoá 2020-2024 Đồ án Tốt nghiệp 30 Ông Trần Văn Hội (1927) - Nguyên Phó giám đốc Xí nghiệp In Q. Là một chuyên viên có tay nghề cao và xuất sắc. Vào 1975 có cơ sở in lụa ở đường số 46 (nay là Hàn Hải Nguyên, Q.11), nổi tiếng với các mặt hàng chất lượng cao và uy tín.

Ông Trần Văn Hạnh – Ba Hoàng (1926-1988). Ông xuất thân là họa sĩ nhưng không thích vẽ chân dung, tranh cảnh mà yêu nghề in lụa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tính Chất Cơ Lý Của Vải Dệt Ứng Dụng Phương Pháp In Lụa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc tính cơ lý của vải dệt, đặc biệt là trong bối cảnh ứng dụng phương pháp in lụa. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vải mà còn chỉ ra những lợi ích của việc áp dụng công nghệ in lụa trong ngành dệt may. Qua đó, tài liệu mở ra cơ hội cho các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong việc cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật cơ điện tử nghiên cứu ứng dụng tự động hóa trong việc đo độ hồi nhàu của vải, nơi khám phá ứng dụng tự động hóa trong việc đo lường tính chất của vải. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên ứu một số tính hất lưu biến ủa vải dệt kim sẽ giúp bạn tìm hiểu thêm về các tính chất lưu biến của vải dệt kim, một khía cạnh quan trọng trong ngành dệt. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về các ứng dụng và nghiên cứu trong lĩnh vực dệt may.