Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bảo hiểm Y tế Bảo hiểm Y tế (BHYT là một loại hình bảo hiểm cơ thể con người, xuất hiện vào thế kỉ thứ XVIII. Nó phát triển mạnh ở các nước công nghiệp và ở một số quốc gia đang phát triển, đã mang lại nhiều lợi ích lớn cho công tác chăm sóc sức khoẻ con người. Bảo hiểm Y tế mới thực hiện ở nước ta khoảng hơn chục năm; bên cạnh những lợi ích, BHYT vẫn còn những tồn tại, bất cập có thể là l c này l c khác hoặc nơi này nơi khác.
Sau gần 18 năm triển khai thực hiện chính sách BHYT, số người tham gia bảo hiểm y tế tăng nhanh và đạt được mục tiêu mở rộng các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, năm 2009 là 50,07 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ 58% dân số cả nước. Quỹ BHYT trở thành nguồn tài chính quan trọng đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, từ chỗ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi y tế, đến nay đã chiếm khoảng gần 1/3 ngân sách nhà nước dành cho y tế và chiếm tỷ trọng xấp xỉ 67% nguồn thu sự nghiệp của các cơ sở khám chữa bệnh (KCB [13]. Khái niệm về Bảo hiểm Y tế Theo Luật Bảo hiểm Y tế: BHYT là hình thức bảo hiểm được thực hiện trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhằm bảo đảm chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT khi họ ốm đau, bệnh tật [13]. Mục Tiêu của Bảo hiểm Y tế BHYT là chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ốm đau.
BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện mang tính chất xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám chữa bệnh và toàn dân tham gia. Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế Cơ sở khám chữa bệnh có quyền: yêu cầu tổ chức BHYT tạm ứng và thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quy định; khám chữa bệnh theo đ ng chuyên môn; sử dụng nguồn kinh phí theo quy định; khiếu nại khi phát hiện hành vi vi 6 phạm Điều lệ BHYT. Cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm: thực hiện đ ng hợp đồng khám chữa bệnh BHYT; ghi chép, lập, cung cấp tài liệu liên quan đến khám BHYT; khám chữa bệnh an toàn, hợp lý; kiểm tra thẻ BHYT; quản lý và sử dụng nguồn kinh phí đ ng quy định; thực hiện các quy định về chế độ thống kê, báo cáo hoạt động chuyên môn, tài chính liên quan đến BHYT [21]. Quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm Y tế - Được cấp thẻ BHYT khi đóng bảo hiểm y tế.
- Lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật BHYT. - Được khám bệnh, chữa bệnh. - Được tổ chức BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ BHYT. - Yêu cầu tổ chức BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ BHYT.
- Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BHYT. Người có thẻ BHYT còn giá trị sử dụng khi khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú ở các cơ sở khám chữa bệnh công lập và ngoài công lập có hợp đồng với cơ quan BHYT về khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT được hưởng quyền lợi: Khám bệnh, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng (theo danh mục quy định của Bộ Y tế) trong thời gian điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh. Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng. Thuốc, dịch truyền trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế.
Máu và các chế phẩm của máu. Các phẫu thuật, thủ thuật. Khám thai và sinh đẻ. Sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh.
Chi phí vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế. Người có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh tại cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và cơ sở khám chữa bệnh BHYT khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế hoặc trong những trường hợp cấp cứu tại cơ sở khám chữa bệnh BHYT, được cơ quan BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí hiện hành của Nhà nước [1], [19], [24]. Bảo hiểm Y tế ở tuyến xã của Việt Nam Ở nước ta, với sự ra đời của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT đã chính thức đánh dấu sự ra đời của chính sách BHYT xã hội. Theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, ngày 16/5/2005, Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT mới kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP.
Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc được mở rộng đến cả những người có hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên, giáo viên trong các cơ sở bán công lập, tư thục, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội và người nghèo với sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, đồng thời mở rộng hơn loại hình tham gia BHYT tự nguyện (ngoài đối tượng là học sinh, sinh viên còn triển khai BHYT tự nguyên theo hộ gia đình, hội viên hội đoàn thể); mở rộng quyền lợi KCB BHYT, thanh toán cho một số dịch vụ như xét nghiệm chẩn đoán sàng lọc HIV, thanh toán trong trường hợp KCB tự chọn; tổ chức hợp đồng KCB BHYT với cơ sở y tế tư nhân; thay đổi cơ chế cùng chi trả; bổ sung các phương thức thanh toán mới với cơ sở KCB như theo định suất, theo nhóm bệnh và các hình thức thanh toán thích hợp khác [19]. Với các điều chỉnh như trên, sau hơn 2 năm thực hiện, số đối tượng tham gia BHYT tiếp tục được gia tăng nhanh chóng, nhất là đối tượng tự nguyện và người nghèo, người dân tộc thiểu số được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% mức phí BHYT. Công tác KCB BHYT tại tuyến xã đã có bước phát triển đột phá trong giai đoạn 2005-2009. Có tới 60% số TYT xã có hợp đồng KCB BHYT.
Việc mở rộng KCB BHYT tại tuyến xã đã góp phần củng cố và phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và KCB thông thường tại tuyến y tế cơ sở, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ y tế (DVYT) của người có thẻ BHYT. Trong năm 2004-2006, khoảng 40% tổng số KCB BHYT là ở tuyến huyện (bao gồm cả KCB tại TYT xã) Năm 2008, Quốc hội thông qua Luật BHYT, chính sách BHYT và lộ trình thực hiện BHYT toàn dân được quy định trong văn bản pháp lý cao nhất. Theo đó, từ 01/7/2009 ngoài các nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc theo các quy định trước đây thì trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc hộ cận ngh o được đưa ngay vào diện tham gia BHYT bắt buộc với sự hỗ trợ mức phí BHYT từ ngân sách 8 nhà nước. Luật cũng quy định cụ thể phạm vi quyền lợi được BHYT bao gồm cả một số bệnh được khám sàng lọc, chẩn đoán sớm theo danh mục do Bộ Y tế quy định.
Quỹ BHYT s thanh toán 100% chi phí KCB cho các đối tượng là người có công, trẻ em dưới 6 tuổi và cho mọi đối tượng khác nếu KCB tại TYT tuyến xã hoặc chi phí cho 1 lần KCB không vượt quá 15% mức lương cơ sở; mở rộng việc thanh toán các kỹ thuật và thuốc sử dụng trong điều trị, thanh toán chi phí vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện trở lên trong trường hợp cấp cứu hoặc khi điều trị nội trú cho một số nhóm đối tượng thuộc diện ưu đãi xã hội, thanh toán một phần chi phí cho người tham gia BHYT khi KCB ở nước ngoài [25]. Ngày 29/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 -2015 và 2020. Với Đề án được phê duyệt, mục tiêu trên 80% dân số tham gia BHYT vào năm 2020 đã mang tính khả thi và hiện hữu với các giải pháp cụ thể, cùng nguồn lực đầu tư cho từng giai đoạn của lộ trình Với mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân và phát triển hệ thống CSSK (chăm sóc sức khỏe theo định hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững, công tác KCB BHYT tại tuyến ban đầu ngày càng được chú trọng và triển khai mạnh m. TYT tuyến xã được quy định là cơ sở KCB BHYT trong Luật BHYT và được hướng dẫn chi tiết việc tổ chức thực hiện tại Thông tư liên tịch số 09 của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính.
Số TYT xã tham gia KCB BHYT tăng nhanh. Năm 2011, số TYT xã thực hiện KCB BHYT là 8.656 trạm, chiếm khoảng 80% tổng số TYT xã trên cả nước, tăng 28% so với năm 2010 [36]. Hiện nay, phần lớn người tham gia BHYT đều đăng ký KCB ban đầu tại TYT tuyến xã, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chi phí KCB BHYT tại TYT tuyến xã chủ yếu là theo dịch vụ hoặc theo định suất được quy định tại Thông tư liên tịch số 09 [22].
Thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu Chính sách thuốc thiết yếu được coi là một trong những chiến lược quan trọng đem lại sức khoẻ cho mọi người bằng kỹ thuật thích hợp, ít tốn kém, có hiệu quả, dễ được cộng đồng chấp nhận thể hiện từ khâu lựa chọn, tìm kiếm, dự trữ, phân phối, sử dụng an toàn, hợp lý, rẻ tiền. Thuốc thiết yếu là công cụ cần thiết cho 9 chăm sóc sức khoẻ, cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Mục tiêu thuốc thiết yếu là: - Cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu. - Đảm bảo cung cấp thường xuyên các thuốc thiết yếu để điều trị các bệnh thông thường ở tuyến cơ sở.
- Th c đẩy sử dụng thuốc hợp lý với từng cá nhân thông qua việc nâng cao khả năng khám bệnh, kê đơn của nhân viên y tế. - Đề nghị phác đồ điều trị chuẩn, - Tránh lạm dụng và lãng phí thuốc.