Chương 1 TONG QUAN 1. Khái niệm gỗ nhiều lớp LVL Gỗ nhiều lớp LVL (Laminated veneer lumber) là một tổ thành của các lớp ván mỏng gỗ xếp chồng lên nhau và dán lại bằng chất kết dính. Chiều thớ gỗ của các lớp ván mỏng trùng nhau. Có loại gỗ LVL được chế tạo và sử dụng giống như Glulam, có loại chế tạo như ván dán, sử dụng sóng radio (RF) dé gia nhiệt.
LVL có thé được sản xuất từ những loại gỗ nhẹ, chất lượng gỗ thấp, nhưng cũng có thé được sản xuất từ những loại gỗ cứng hoặc kết hợp. LVL là một sản phẩm gỗ đồng nhất vì khi thiết kế, các khuyết tật tự nhiên như mất, độ nghiêng, xoắn của thớ, vết nứt, mục và các khuyết tật tự nhiên khác phân tán trong toàn bộ gỗ tròn nguyên liệu đã được loại bỏ trong khâu xử lý nguyên liệu hoặc trong công đoạn ghép nối ván mỏng. Mặt khác, các tắm ván mỏng được đặt theo trình tự và vị trí cụ thé trong sản phẩm dé tối đa hóa khả năng chịu tải của các lớp ván mỏng trong cấu trúc vật liệu LVL. Do ván mỏng trong cấu trúc của LVL được sấy khô đến độ 4m mong muốn nên LVL không co rút, tách, nứt sau khi ép nóng.
Trong khi gỗ xẻ và các loại gỗ dán keo vẫn có thé bị co ngót do say không hiệu quả. Vì vậy, đặc tính cường độ của LVL vượt trội hơn so với gỗ dán, gỗ glulam và thé hiện các đặc tính cấu trúc được cải thiện so với gỗ xẻ. Nhìn chung, Độ bền cơ học của LVL gấp 1,3 lần của glulam và gấp 2 lần của gỗ xẻ. Không những thế LVL còn là vật liệu chính xác về kích thước, thăng, không cong vênh, xoắn, vặn mặc di có thé có những thay đổi nhỏ do độ âm ( Hoàng Xuân Niên 2017).
Về kích thước LVL có có thể có bat kỳ độ dai nào tuỳ theo kích thước máy ép hoặc hạn chế vận chuyền. Chiều rộng (hoặc dày) lớn nhất của LVL lên tới 80 mm tùy thuộc vào quy trình sản xuất. So với gỗ xẻ hoặc glulam, LVL được cung cấp với chiều rộng nhỏ hơn nhiều. Nhưng vì đặc tính cường độ vượt trội của nó, một mặt cắt nhỏ hơn của vật liệu gỗ LVL vẫn được phép trong các cấu trúc chịu tải.
Bởi vì, mặt cắt ngang của LVL có thé được tối ưu hóa bằng cách mở rộng độ cao của mặt cắt (thông số chính thể hiện khả năng chịu lực), và giảm độ rộng (thông số ảnh hưởng không nhiều đến khả năng chịu lực). Do đó, chiều rộng tối đa có sẵn của LVL vẫn đủ để đảm bảo cho kết cấu chịu lực tốt. Ngoài ra, mặt cắt ngang của LVL có thé được tối ưu hóa bằng cách mở rộng độ cao của mặt cắt là một yếu tố chính của độ cứng, và bằng cách giảm độ rộng như là một yếu tố nhỏ của độ cứng. Do đó, chiều rộng tối đa có sẵn của LVL vẫn đủ dé kết cau chịu lực.
Ngoài ra, vật liệu LVL sử dụng gỗ hiệu quả hơn. So với gỗ xẻ sử dụng nguyên liệu gỗ tròn sản xuất cùng một loại hình sản phẩm tỷ lệ thông thường là 3:1. LVL là vật liệu được sử dụng trong các ứng dụng yêu cầu độ ổn định cường độ và kích thước. Là vật liệu xây dựng đồng nhất và 6n định về kích thước, LVL có thé được sử dụng trong cả tường chịu lực và khung chịu lực, làm ván, làm dầm, xà, khung cửa và cửa số, đường ray cửa trượt, bậc thang, cũng như các vì kèo nhà ở một gia đình và các công trình xây dựng kỹ thuật như phòng bơi, phòng thể thao,.
LVL là vật liệu được sử dụng ngày càng nhiều trong các công trình chịu tải và vượt khẩu độ do những phẩm chất cao hơn gỗ xẻ vá các loại gỗ dán keo của nó. Quá trình sản xuất và phát triển gỗ kỹ thuật trên thế giới. Vào năm 1941, lần đầu tiên vật liệu LVL (Laminated veneer lumber) được san xuất theo phương pháp xếp các lớp van mỏng đã tráng keo theo chiều doc thé và ép có gia nhiệt, sử dụng để chế tạo cánh quạt và các bộ phận khác của máy bay trong Thế chiến II. Đến dau năm 1960, Art Troutner và Herold Thomas (Hoa Kỳ) thành lập công ty TJ International, sản xuất sản phẩm mới là dam tiết điện hình chữ nhật LVL có sức mang tải tính theo mỗi kg trọng lượng của chính nó cao hơn bat ky sản pham câu trúc lớp nào khác vào thời diém đó.
Tiệp tục cai tiên san phâm dâm tiết điện hình chữ nhật LVL và phát minh thêm các sản phẩm dựa trên gỗ. Những năm 70 của thế kỷ trước công ty TJ International tiếp tục cho ra đời sản phẩm dam chữ I cấu trúc lớp (I-Joist) và các vì kèo từ sản phâm gỗ LVL. Đáp ứng nhu cầu dùng gỗ đang ngày càng tăng của thị trường. Sản phẩm này có trọng lượng nhẹ, độ bên cao, tính đồng đều và khả năng tăng chiều dài đáng ké làm cho nó trở thành vật liệu thay thé lý tưởng cho gỗ xẻ cứng.
Tiếp tục sáng tạo, Troutner đã nghiên cứu phát triển một dạng vật liệu LVL có cau trúc tổ hợp nhiều lớp ván mỏng xếp song song theo chiều doc thé có chiều day 1/10 inch (2,54mm) từ gỗ linh sam (Douglas Fir) có đủ độ bền và tính chat đồng nhất. Từ phôi Douglas Fir xẻ thành các sản phẩm có quy cách mong muốn. Các sản phẩm TJ (TJ International) đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường khan hiểm gỗ có kích thước lớn cả chiều rộng và chiều dài, độ bền cao cùng với cấu trúc dầm chữ I, chịu lực tốt mà gỗ xẻ truyền thống bị hạn chế. TJ International hiện nay là nhà sản xuất và tiếp thị hàng đầu các sản phẩm gỗ LVL trên thé giới.
(Erja Neuvonen, Minna Salminen, Jani Heiskanen 1998) Sản xuất LVL ở các khu vực khác trên thé giới cho biết: Sản phẩm LVL được sản xuất tại Hoa Kỳ, Canada, Phần Lan, Nhật Bản, Úc và New Zealand. Sự phổ biến ngày càng tăng của LVL cũng được chứng minh bang thực tế là các đơn đặt hàng hiện tại của Raute Wood Machine Machine bao gồm năm dây chuyền sản xuất LVL mới. Hai dây chuyền máy và thiết bị kỹ thuật đồng bộ đang được lắp đặt ở Indonesia cho Tập đoàn Surya Dumai, trong khi Keytec đang dựng một dây chuyền khác ở Nhật Bản. Đây đã là dây chuyền LVL thứ hai mà công ty Nhật Bản này đã đặt hàng từ Raute Wood.
Công ty Finnforest tại Phần Lan cũng đang mở rộng sản xuất và Evans Products tại B., Canada cũng đều dang mua máy và thiết bị LVL của Raute Wood. Finnforest đã sản xuất LVL va đăng ký nhãn sản phẩm KERTO. Sản phẩm Kerto-LVL (gỗ dán nhiều lớp) trên thị trường hiện nay là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển của chính công ty. Một nha máy của Finnforest sản xuất KERTO-LVL được đặt tại Lohja ở miền Nam Phần Lan.
Kerto-LVL là một sản phẩm LVL có cường độ chịu lực đặc biệt cao được làm bằng cách dán các veneers với nhau được bóc từ gỗ mềm Phần Lan. Finnforest là công ty duy nhất ở châu Âu sản xuất sản phẩm này cho đến năm 1998. Hiện nay, công suất sản xuất hàng năm của nhà máy Kerto-LVL là khoảng 60. Xuất khẩu chiếm gần 90% tổng sản lượng.
Các khu vực thị trường quan trọng nhất là Đức, Pháp, Thụy Điền và Hoa Kỳ. Dây chuyền sản xuất của Kerto được chứng nhận ISO 9001, có nghĩa là sản phẩm có chất lượng và ôn định. Tai Thụy Điển, Công ty Vänerply là một trong những nha sản xuất gỗ dán lớn nhất ở châu Âu, đã bắt đầu sản xuất LVL vào đầu năm 1998 và sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh duy nhất của KERTO ở châu Âu. Finnforest và đơn vị kinh doanh KERTO làm việc trên toàn thế giới với sự hợp tác chặt chẽ với người dùng sản phẩm.
Một sản phẩm chat lượng cao hướng đến khách hàng cùng với chuyên môn kỹ thuật trong tiếp thị là sự kết hợp mạnh mẽ được các chuyên gia trong ngành xây dựng đánh giá cao. KERTO liên tục tăng cường dịch vụ khách hàng và các sản phẩm của mình. Các sản phẩm Kerto-LVL được tiếp tục xử lý tại nhà máy dé phù hợp với nhu cầu ứng dụng của khách hàng. Kerto-LVL là một sản phẩm g6 thân thiện với thiên nhiên được làm từ cây vân sam Phần Lan sử dụng công nghệ mới nhất.
Kerto-LVL có độ bền rất cao, chính xác về kích thước và thang, không cong vênh va chỉ có những thay đổi nhỏ do độ âm. Kerto-LVL duy trì các đặc tính này và có khả năng chống cháy rat tot. Là một vật liệu chịu tải, Kerto phù hợp cho dam san, xa gồ và cho tất cả các hình dạng mái nhà như đầm và kèo. Phạm vi sử dụng khác nhau từ các tòa nhà công nghiệp và công cộng đến nhà công nghiệp và yêu cầu cải tạo.
Kerto-LVL cũng đang được sử dụng trong các lĩnh vực ứng dụng khác: trong việc xây dựng cầu và tháp nước, nhà di động, tà vet đường sắt, trong các rào cản tiếng ồn trên đường cao tốc. Tình hình nghiên cứu gỗ kỹ thuật LVL ở Việt Nam Phạm Văn Chương, Vũ Mạnh Tường, Nguyễn Văn Diễn (2014), đã nghiên cứu ảnh hưởng của áp suất và thời gian ép đến một số tính chất cơ học của gỗ ghép khối sản xuất từ Keo lá tram, chất kết dính là Synteko 1985/1993. Nhóm tác giả đã kết luận: (1) độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi của ván ghép khối đều tăng khi tăng áp suất ép từ 1,0 - 2,0 MPa và thời gian ép tăng từ 50 - 70 phút; (2) Khả năng dán dính giữa keo và gỗ, khả năng liên kết trong nội tại màng keo tăng khi tăng áp suất ép và thời gian ép (độ bong tách màng keo giảm và độ bền kéo trượt màng keo tăng); (3) Áp suất ép ảnh hưởng rõ nét hơn đến các chỉ tiêu cơ học của gỗ ghép khối so với ảnh hưởng của thời gian ép; (4) Tác giả khuyến nghị chế độ ép khi tạo ván ghép khối từ gỗ keo lá tràm, chất kết dính Synteko 1985/1993 sản phẩm ở dạng thắng, phẳng, điều kiện ép nguội: Áp suất ép từ 1,8 - 2,0 MPa, thời gian ép 60 phút. Phạm Văn Chương, Vũ Mạnh Tường, Nguyễn Trọng Kiên, Lê Ngọc Phước (2005), đã nghiên cứu ảnh hưởng của thông số chế độ ép đến chất lượng gỗ ghép khối dùng làm dầm chịu lực.