CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về “tạo mẫu nhanh” Công nghệ tạo mẫu nhanh đã xuất hiện từ năm 1980 và được đánh dấu bằng sáng chế của Charles W. Hull vào năm 1984 về Thiết bị tạo hình lập thể (StereoLithography Apparatus - SLA), được công nhận vào năm 1986 và thương mại hóa bởi công ty 3D System vào năm 1987. Hệ thống tạo mẫu nhanh đã trang bị hơn 53 nước trên thế giới. Hình 1: Sự hình thành và phát triển công nghệ tạo mẫu nhanh Các khái niệm tạo mẫu nhanh được các tác giả như: Giáo sư Fritz Kloeke (Đại học Aechen), Tiến sĩ Chris Zhang (ĐH Saskatchewan), Kochan, Chen, Jack Zhou…trình bày theo mỗi cách riêng trong từng ngành nghề, và lĩnh vực khác nhau.
HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 1 Luận văn Thạc sĩ Theo Terry Wohler – Chủ tịch Hiệp hội tạo mẫu nhanh thế giới đã đưa ra khái niệm sau đây: “Tạo mẫu nhanh là công nghệ chế tạo mô hình vật lý hoặc mẫu sản phẩm từ dữ liệu thiết kế 3D trên máy tính hoặc từ dữ liệu chụp cắt lớp điện toán CT, cộng hưởng từ MRI hoặc từ dữ liệu của các thiết bị số hóa 3D”. Tạo mẫu nhanh là công nghệ chế tạo mô hình vật lý hoặc mẫu sản phẩm từ những dữ liệu sau đây: Thiết kế 3D trên máy tính. Dữ liệu chụp cắt lớp điện toán CT và cộng hưởng từ MRI. Dữ liệu từ các thiết bị số hóa 3D như các máy đo tọa độ CMM, máy quét 3D (3D scanner),… Tuy nhiên, các chuyên gia đều quan niệm rằng tạo mẫu nhanh là quá trình tạo mẫu vật lý từ những thiết kế 3D trên máy tính.
Tạo mẫu nhanh là quá trình tạo mẫu theo từng lớp trực tiếp từ dữ liệu thiết kế 3D và là quá trình tạo mẫu không cần dùng khuôn và dụng cụ. Đây là công nghệ chế tạo mô hình vật lý hoặc mẫu sản phẩm từ dữ liệu thiết kế 3D, được mô tả như hình 2. TẠO MẪU NHANH CẢI TIẾN MÔ HÌNH 3D CẢI TIẾN MÔ HÌNH VẬT LÝ KỸ THUẬT NGƯỢC Hình 2 : Sơ đồ về kỹ thuật tạo mẫu nhanh Với lợi ích của công nghệ tạo mẫu nhanh là tiết kiệm thời gian và chi phí để phát triển sản phẩm. Do đó, tạo mẫu nhanh đang được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi hầu hết các lĩnh vực như : HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 2 Luận văn Thạc sĩ Trong y học tạo mẫu nhanh để tạo mẫu cấy ghép bộ phận giả, các dụng cụ y tế.
Việc ứng dụng Tạo mẫu nhanh trong y học có khá nhiều dự án phối hợp. Trước hết là tổ chức Nimbus TCS ở Đại học Kỹ Thuật Lousiana (Mỹ), INCS (Nhật), Anatomics (Úc) hoặc dự án Phidias của cộng đồng Châu Âu. Cũng như dự án phối hợp của Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM, bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện 115, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ NACENTECH, Viện công nghệ Châu Á (Thái Lan) và Đại học tổng hợp Lewen ( Bỉ ) đồng tổ chức về dự án công nghệ y học, xây dựng mô hình, bộ phận cấy ghép thay thế xương. Trong cơ khí tạo mẫu nhanh cho phép thiết kế các mô hình chi tiết máy hoặc sản phẩm mẫu.
Trong điện tử thiết kế các thành phần kết cấu, khung vỏ, các linh kiện ,… Trong lĩnh vực Ôtô tạo mẫu nhanh ứng dụng thiết kế mẫu nội thất và ngoại thất sản phẩm Ôtô nhanh chóng. Lĩnh vực xây dựng công nghệ FDM được ứng dụng để thiết kế các mô hình nhà, với các kiểu dáng, phương hướng theo yêu cầu. Đối với dân dụng thì tạo mẫu nhanh FDM để thiết kế các sản phẩm được sử dụng trong đời sống hằng ngày. Thời điểm hiện tại, các công nghệ tạo mẫu nhanh không chỉ được sử dụng để tạo ra các mô hình, với những lợi thế về vật liệu nhựa nó đã có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, tất nhiên đầu tiên họ được phát triển để mở rộng các tình huống thử nghiệm trong quá trình tạo mẫu.
HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 3 Luận văn Thạc sĩ 1.2 Các dạng tạo mẫu nhanh thông dụng Có nhiều phương pháp tạo mẫu nhanh, dưới đây trình bày sơ lược về đặc điểm của một số phương pháp thông dụng. Phương pháp SLA (Stereo lithography apparatus) tạo ra các mẫu từ vật liệu nhựa cảm quang (photocurable resin). Khi nguồn laser, được điều khiển theo tín hiệu của máy tính, quét phủ mặt cắt ngang của mô hình 3D làm hoá cứng một lớp. Sau đó thùng đựng nhựa lỏng hạ xuống một nấc và cứ thế dần dần sẽ hình thành mẫu theo từng lớp một.
Hình 3: Tạo mẫu nhanh SLA Phương pháp LOM (Laminated Object Manufacturing) dùng vật liệu dạng tấm có phủ keo dính (chủ yếu là giấy nhưng cũng có thể dùng tấm nhựa, tấm kim loại…) Nguồn Laser tạo ra từng lớp mặt cắt bằng cách cắt tấm vật liệu theo đường biên của mặt cắt vật thể. Các lớp mặt cắt được dán lần lượt chồng lên nhau nhờ hệ thống con lăn gia nhiệt. HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 4 Luận văn Thạc sĩ Hình 4: Tạo mẫu nhanh LOM Phương pháp SLS (Selective Laser Sintering) là phương pháp thiêu kết bằng tia Laser. Sau khi con lăn trải ra trên mặt bàn công tác một lớp bột với chiều dày đã định trước, nguồn Laser sẽ quét phủ trên bề mặt cần tạo lớp.
Ở vùng đó các hạt vật liệu sẽ dính kết vào nhau tạo thành một lớp. Hình 5: Tạo mẫu nhanh SLS HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 5 Luận văn Thạc sĩ Phương pháp FDM (Fused Deposition Manufacturing) dùng vật liệu dạng dây dễ chảy, như nhựa ABS. Sợi dây qua đầu gia nhiệt sẽ hoá dẻo và được trải lên mặt nền theo đúng biên dạng mặt cắt của mẫu, theo từng lớp có chiều dày bằng chiều dày lớp cắt. Nhựa dẻo sẽ liên kết theo từng lớp cho đến khi tạo xong mẫu.
Hình 6: Tạo mẫu nhanh FDM Tạo mẫu nhanh FDM (Fused Deposition Manufacturing) do Tiến sĩ S.Scott Crump, tác giả người Mỹ đề xuất lần đầu tiên vào năm 1988, tiếp theo là phát triển các mô hình thương mại đầu tiên vào năm 1991. Hàng loạt các hoạt động bán hàng thiết bị FDM của Stratasys đã trở thành hệ thống tạo mẫu nhanh tốt nhất. Hệ thống tạo mẫu nhanh FDM của Stratasys bán hàng vào năm 1997 đã được xếp hạng hàng đầu và năm 1998 công ty FDM Stratasys đạt doanh số bán hàng với 270 máy, chiếm 43% doanh số bán hàng thiết bị tạo mẫu nhanh toàn cầu. Cho đến nay, FDM thiết bị tạo mẫu nhanh trên thế giới đã bán được hơn 1.000 máy, quyền sở hữu của Trung Quốc đại lục và Hồng Kông có hơn 60 bộ.
HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 6 Luận văn Thạc sĩ Công nghệ này đang mở ra cơ hội để khuyến khích các nhà thiết kế xem xét tiếp cận mới để phát triển sản phẩm và kiểm tra các phương pháp truyền thống được sử dụng để thiết kế cho quá trình sản xuất. Với phương pháp tạo mẫu nhanh FDM có thể làm cho bất kỳ hình dáng hoặc tính năng hình học bằng cách đùn vật liệu xây dựng lớp tạo sản phẩm 3D không sử dụng tia laser hay hóa chất độc hại.3 Nhu cầu sử dụng công nghệ tạo mẫu nhanh FDM Mỗi phương pháp công nghệ tạo mẫu nhanh có những đặc điểm và ứng dụng riêng biệt, nên số lượng thiết bị của từng loại cũng khác nhau cho đến thời điểm năm 2010 theo như biểu đồ sau đây: Hình 7 : Biểu đồ sử dụng tạo mẫu nhanh Từ biểu đồ này cho thấy: - Công nghệ SLA có 2115 hệ thống, chiếm tỉ lệ 31% - Công nghệ FDM có 1216 hệ thống, chiếm tỉ lệ 17,82% - Công nghệ LOM có 692 hệ thống, chiếm tỉ lệ 10,2% HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 7 Luận văn Thạc sĩ - Công nghệ SLS có 690 hệ thống, chiếm tỉ lệ 9,8% Việc lựa chọn sử dụng công nghệ tạo mẫu nhanh FDM đã dần chiếm thị trường nhiều hơn bởi vì tạo mẫu nhanh FDM có nhiều ưu điểm. FDM cung cấp nhiều lợi ích, bao gồm: Sản xuất nguyên mẫu và các bộ phận chức năng. Giảm thời gian thiết kế.
Giảm tổng chi phí. Làm giảm trọng lượng. Tiết kiệm thời gian. Sản lượng các bộ phận ít tốn kém.
Tạo ra các bộ phận có thể chịu được nhiệt độ cao, nước và hóa chất. Quá trình FDM có thể xây dựng các mô hình từ ABS hoặc nhựa khác. Dây của vật liệu có sẵn và được sản xuất nhiều màu. Không sử dụng tia Laser.
Không sử dụng dung dịch hóa chất Không gây ô nhiễm môi trường Bố trí máy dễ dàng ở văn phòng, nhà, xưởng. Từ những thế mạnh đó, tạo mẫu nhanh FDM được nghiên cứu để phát triển mạnh ở Việt Nam. HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 8 Luận văn Thạc sĩ CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ TẠO MẪU NHANH FDM 2.1 Khái niệm tạo mẫu nhanh FDM Tạo mẫu nhanh FDM (Fused Deposition Manufacturing) là quá trình đùn nhựa nóng chảy với phương pháp bồi đắp vật liệu theo từng lớp để xây dựng mô hình vật thể 3D, đây là một phương pháp chế tạo mẫu nhanh hoặc sản xuất nhanh (Rapid Prototyping hoặc Rapid Manufacturing) được sử dụng trong thiết kế kỹ thuật. Máy tạo mẫu nhanh FDM có 3 chuyển động chính theo hệ tọa độ XYZ (hình 8).
Hai chuyển động theo phương X,Y để tạo ra biên dạng của sản phẩm và chuyển động theo phương Z để tạo ra chiều cao của sản phẩm. Hình 8: Qui trình công nghệ FDM HVTH : Nguyễn Qui Điền (MSHV: 11844573) 9 Luận văn Thạc sĩ Trong qui trình công nghệ FDM (hình 8) sản phẩm chuẩn bị thiết kế (1) thông qua máy tính (2) bằng các phần mềm thiết kế 3D để tạo ra được mẫu chi tiết hoặc sản phẩm (3) sử dụng phương pháp tạo mẫu nhanh FDM bao gồm: các cuộn dạng ống chỉ 4 và 5 quấn dây vật liệu tạo mẫu và dây vật liệu đỡ , thông qua cơ cấu truyền động 6, dây vật liệu vào đầu đùn 7 và gia nhiệt 8, tiếp theo là đẩy nhựa lỏng ra vòi phun 9, xây dựng lớp tạo mẫu và lớp đỡ mẫu 10 lên nền cơ bản 11 của bàn máy 12 thay đổi chiều cao, để tạo mẫu vật thể. Quá trình này được thực hiện theo trình tự sau : Thiết kế mô hình thiết kế 3D: là mô hình được vẽ bằng các phần mềm CAD, hoặc mô hình được quét 3D cùng với sự hỗ của máy vi tính từ đó thiết kế mẫu hoặc sản phẩm theo yêu cầu. - Thiết kế thuận: nhu cầu - ý tưởng thiết kế - tạo mẫu thử và kiểm tra - sản phẩm.