Chương 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO BẮC TÔNG TẠI TRÀ VINH 1. Vùng đất và con người Trà Vinh 1. Vùng đất Trà Vinh Trà Vinh còn gọi là Trà Vang xuất phát từ âm tiếng Khmer, phiên âm theo tiếng Pháp là “Préah Trapéang”, có nghĩa là nơi tìm được tượng Phật bằng đá trong ao nước. Trong một trận nước lụt, dân làng thấy tượng Phật trôi tấp vào bờ ao liền rước về một gò cao cạnh đó xây chùa thờ phượng.
Chùa được đặt tên là Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, gọi theo tên của vị trụ trì đầu tiên. Trapéang được Hán Việt hóa thành âm Trà Văn, về sau bị nói trại thành Trà Vang sau gọi là Trà Vinh [40 , 08]. Lịch sử hình thành vùng đất này, theo tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy Trà Vinh trải qua các giai đoạn sau: Thời kỳ chúa Nguyễn và nhà Nguyễn: Năm 1732, Chúa Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ thì Trà Vinh bấy giờ thuộc châu Định Viễn. Năm 1802, Vua Gia Long lên ngôi đổi Gia Định phủ thành Gia Định trấn, lãnh thổ Gia Định trấn được chia làm bốn dinh, Trà Vinh thuộc dinh Vĩnh Trấn.
Năm 1803, Gia Long đổi dinh Vĩnh Trấn thành dinh Hoằng Trấn, Trà Vinh lúc này thuộc dinh Hoằng Trấn. Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, dinh Hoằng Trấn đổi thành Vĩnh Thanh trấn, Trà Vinh thuộc Vĩnh Thanh trấn. Năm 1825, vùng Trà Vinh được Vua Minh Mạng thành lập phủ Lạc Hóa, thuộc Gia Định thành, có hai huyện Trà Vinh và Tuân Nghĩa. Năm 1832, Vua Minh Mạng đổi các trấn thành tỉnh, Nam bộ bấy giờ chia thành Lục tỉnh, gọi là Lục tỉnh Nam kỳ gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, bấy giờ Trà Vinh thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long.
Thời kỳ Pháp thuộc: Năm 1876, Thống đốc Nam kỳ ra quyết định chia Nam kỳ ra bốn khu vực hành chánh lớn, khu vực hành chánh lớn Vĩnh Long chia làm bốn tiểu khu gồm: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc. Ngày 20 tháng 12 năm 1899, quan Toàn quyền Đông Dương đã đổi tiểu khu thành tỉnh, ngày 01 tháng 01 năm 1900, tỉnh Trà Vinh 8 Luan van được thành lập, là một tỉnh trong hai mươi tỉnh của Nam kỳ lúc bấy giờ. Năm 1951, chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định nhập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành một tỉnh gọi là tỉnh Vĩnh-Trà, tồn tại tới năm 1954, lại trả về tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa: Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình cho đến ngày giải phóng đất nước 30 tháng 04 năm 1975.
Thời kỳ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Tháng 02 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long. Năm 1991, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra quyết định giải thể tỉnh Cửu Long, tái lập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Tỉnh Trà Vinh lúc bấy giờ có một thị xã là thị xã Trà Vinh và bảy huyện gồm: Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải. Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh, ngày 04 tháng 03 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP chuyển thị xã Trà Vinh lên thành phố Trà Vinh trực thuộc tỉnh Trà Vinh.
Năm 2015, thành lập thị xã Duyên Hải trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của huyện Duyên Hải, gồm có hai phường và năm xã.1 Bảng đồ địa chính tỉnh Trà Vinh Nguồn: Phòng địa chính, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh 2015 9 Luan van Địa lý tỉnh Trà Vinh: Việt Nam là quốc gia có bờ biển chạy dài từ Bắc tới Nam, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Trà Vinh là một trong những tỉnh duyên hải thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm phía Tây Nam của Nam bộ, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre. Tỉnh Trà Vinh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, có hai cửa sông chính đổ ra biển là Cung Hầu và Định An. Vị trí địa lý giới hạn từ 9031’46’’ đến 1004’5’’ vĩ độ Bắc và từ 105056’16’’ đến 106036’04’’ kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km bởi quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long.
Đi quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre chỉ còn 130 km, cách thành phố Cần Thơ 100 km. Diện tích toàn tỉnh là 2.341,2 km2, địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt nước biển, có các giồng cát chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển, càng về phía biển các giồng này càng cao và rộng. Tỉnh Trà Vinh có 65 km bờ biển, toàn tỉnh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km. Tỉnh Trà Vinh có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Măng Thít.
Khí hậu tỉnh Trà Vinh tương đối ôn hòa ổn định, ít bị ảnh hưởng bởi bão lũ, nhiệt độ trung bình từ 26 – 270c, độ ẩm trung bình 80 – 85% /năm. Lượng mưa trung bình từ 1.600 mm, hàng năm hạn hán cũng thường xảy ra, lượng mưa ít gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Con người Trà Vinh Theo cục thống kê dân số tỉnh Trà Vinh năm 2010 là 1.600 người, mật độ dân số là 414 người/km2, các dân tộc cộng cư ở Trà Vinh là Khmer, Việt, Hoa, Chăm. dân số Trà Vinh chiếm 5,99% đồng bằng sông Cửu Long, hơn 70% dân số sống ở nông thôn, tỉ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.
Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh người Kinh chiếm khoảng 69%, người Khmer chiếm khoảng 30% còn lại là người Hoa và các dân tộc khác. 10 Luan van Bảng 1.2 Bảng dân số của các dân tộc tỉnh Trà Vinh lập năm 2016. STT DÂN TỘC DÂN SỐ TỈ LỆ 1 Người Kinh 698.694 69% 2 Người Khmer 303.780 30% 3 Người Hoa và các dân tộc khác 10.600 100% (Theo số liệu Cục thống kê tỉnh Trà Vinh năm 2010) Về tôn giáo, hiện tại tỉnh Trà Vinh có 09 tôn giáo bao gồm Phật giáo, Công giáo, Islam giáo, Tin Lành, Cao Đài, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật hội, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương. Trong số đó, Phật giáo chiếm trên 60% dân số của tỉnh, theo báo cáo tổng kết cuối năm vào tháng 12 năm 2007 của Ban trị sự tỉnh tại chùa Lưỡng Xuyên.
Người Khmer đa phần theo Phật giáo Nam tông đã có mặt trên mảnh đất Trà Vinh từ rất sớm, số ít theo Tin Lành. Người Hoa trong quá trình di cư vào tỉnh Trà Vinh họ đem theo tín ngưỡng từ Trung Hoa sang, đa phần theo tín ngưỡng dân gian thờ ông Bổn, Ngũ Hành Nương Nương, Quan Thánh Đế Quân và theo Phật giáo. Người Chăm theo Islam giáo, người Việt đa phần theo Phật giáo Bắc tông, còn lại theo Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương,…Chúng ta cần phải tìm hiểu khái quát về các đạo giáo có mặt tại tỉnh Trà Vinh. Phật giáo Nam tông Khmer (Theraveda) tại Trà Vinh đã có từ rất sớm, theo ban tôn giáo tỉnh Trà Vinh, chùa Som-Bua-Răng-Sây tại xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè được thành lập năm 373.
Đây là giai đoạn vùng đất Trà Vinh thuộc vương quốc Phù Nam, được hình thành vào khoảng đầu thế kỷ thứ I Tây lịch và tồn tại đến khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VII Tây lịch. Trần Hồng Liên cũng cho rằng Phật giáo đã có mặt từ thời vương quốc Phù Nam, từ thế kỷ thứ V (năm Giáp Tý 484), khi vua Kaundinya Jayavarman phán sai nhà sư Nagasena 11 Luan van qua Trung Quốc, đạo Phật đã tồn tại ở Phù Nam [52, 08]. Được hình thành từ rất sớm, Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh có quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Hiện nay, Phật giáo Nam tông Khmer tại Trà Vinh có 143 ngôi chùa và 3.[63, 04] Bên cạnh Phật giáo Nam tông Khmer, tại Trà Vinh có sự du nhập của Phật giáo Nam tông Kinh được truyền thụ từ HT.
Pháp Lạc chùa Pháp Bảo tỉnh Tiền Giang, sư Pháp Hỷ về xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè xây dựng chùa Lộc Giả năm 1960. Ngọc Giáo đắc pháp với HT. Ngọc Hòa từ chùa Bửu Pháp - Cần Thơ, về lập chùa Bửu Châu thị xã Phú Vinh, tỉnh Vĩnh Bình năm 1965 [56, 17]. Hiện nay, Phật giáo Nam tông Kinh có 4 ngôi chùa, 5 vị tu sĩ, theo báo cáo tổng kết cuối năm 2016 của Ban trị sự tỉnh tại chùa Lưỡng Xuyên.
Năm 1944, sau khi Tổ sư Minh Đăng Quang ngộ đạo, Tổ bắt đầu truyền giáo từ làng Phú Mỹ - Mỹ Tho. Đạo Phật hệ phái Khất sĩ được thành lập, từng giáo đoàn thay phiên nhau đi hành đạo, truyền bá giáo pháp Khất sĩ khắp vùng Nam bộ, Trung bộ và miền Đông-Nam phần. Hệ phái Khất sĩ tại tỉnh Trà Vinh được truyền vào thập niên sáu mươi, do Ni trưởng Huỳnh Liên [56, 17]. Hiện nay, hệ phái Khất sĩ tại tỉnh Trà Vinh có 6 tịnh xá, 2 tịnh thất, 1 chùa, có 17 vị tu sĩ, theo báo cáo tổng kết cuối năm 2016 của Ban trị sự tỉnh Trà Vinh, tại chùa Lưỡng Xuyên.
Ngoài Phật giáo, tỉnh Trà Vinh còn có sự hoạt động của các tôn giáo khác. Đặc biệt, Công giáo tại tỉnh Trà Vinh được truyền vào giai đoạn cấm đạo ngặt nghèo của các vua triều Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị. do Linh mục Philipphê Phan Văn Minh. Các vùng được truyền giảng trước tiên là Mặc Bắc (Long Thới), Chà Và (Vĩnh Bình), và Dòng Rùm (Phước Hảo).
Năm 1863, khi tỉnh Trà Vinh được thành lập, các Linh mục thừa sai đến đảm nhiệm các họ đạo nói trên và bắt đầu thiết lập họ đạo mới tại tỉnh lỵ. Các ngôi nguyện đường nhỏ được dựng lên và sửa sang dần. Hiện nay, toàn tỉnh có 28 ngôi thánh đường rộng rãi khang trang dưới sự chăm sóc chu đáo của 20 Linh mục [41, 13]. Theo tài liệu lưu trữ Ban 12 Luan van tôn giáo tỉnh Trà Vinh vào năm 2015, Công giáo có 43 cơ sở thờ tự, có 54 Linh mục, 81 Nữ tu, có 64.
Tại Nam bộ vào thế kỷ XIX, có sự ra đời của các tôn giáo bản địa như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài,. tất cả đều được truyền vào tỉnh Trà Vinh vào khoảng đầu thế kỷ XX.