Mở đầu của công cuộc đổi mới là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 15 z Chủ trương, chính sách giáo dục đại học Trước khủng hoảng của kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt vào những năm 1987, 1988 khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục đào tạo nói chung trong đó có giáo dục đại học lâm vào tình trạng yếu kém về nhiều mặt. “Quy mô đào tạo của các trường bị thu hẹp và giảm liên tục. Chất lượng đào tạo thấp và sút kém, tổ chức và quản lý kém hiệu quả” [20, tr.
Đời sống của cán bộ giảng viên và sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, nhiều giáo viên đã phải bỏ nghề, việc dạy và học thiếu động lực. Cơ sở vật chất và kỹ thuật của các trường nghèo nàn và lạc hậu…, “nhiều trường học đã phải phấn đấu rất nỗ lực để không bị tan rã trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn lúc bấy giờ” [64, tr. Trước thực trạng đó, xác định giáo dục đại học là một lĩnh vực mũi nhọn của giáo dục nước nhà, nhằm mục tiêu: hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội. Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế - xã hội.
Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo ngành giáo dục thay đổi tư duy về cách làm giáo dục, đề ra những chủ trương kịp thời và thích hợp, tiến hành điều chỉnh mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục đào tạo đại học. Vận dụng đường lối đổi mới vào công tác giáo dục, mùa hè năm 1987, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã tổ chức Hội nghị Hiệu trưởng Đại học ngành giáo dục tại thành phố Nha Trang bàn hướng tháo gỡ và nhất trí với những giải pháp tình thế dựa trên “4 tiền đề”6 đổi mới giáo dục đại học. Tại hội nghị này, những chủ trương lớn, những nhận thức mới đầu tiên đã đề xuất để đổi mới giáo dục đại học. Đó là: chủ trương về chi phí giáo dục đại 6.
Nội dung “4 tiền đề” đổi mới giáo dục đại học được nêu ở phần Phụ lục. 16 z học, và trường đại học ngoài công lập cũng bắt nguồn từ đây. Tư tưởng đổi mới tổng quát về giáo dục tại hội nghị này là gắn phát triển giáo dục (cả số lượng và chất lượng) với phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, ở từng vùng – nhận thức đúng vai trò và vị trí của giáo dục trong chiến lược con người, trong chiến lược kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục theo vùng, đại trà và mũi nhọn. Đây là bước chuyển biến rõ rệt, quan trọng trong lịch sử giáo dục đại học ở Việt Nam, mở ra một giai đoạn phát triển mới với những bước đột phá, đổi mới chưa từng có trong toàn hệ thống giáo dục.
Cũng trong thời gian này, ngành giáo dục đại học đã đề ra “3 chương trình hành động”7 (1987-1990), nhằm tạo bước chuyển biến tích cực cho sự nghiệp đổi mới toàn diện, cơ bản nền giáo dục Việt Nam. Năm 1987, ngành giáo dục đại học đã có chủ trương: sinh viên tốt nghiệp phần lớn tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm trong thị trường sức lao động. Hệ thống trường đại học, cơ sở vật chất, ngân sách và quản lý Hệ thống trường đại học Vào đầu thời kỳ đổi mới, quy mô các trường đại học ở nước ta rất nhỏ, chỉ dưới 1.000 sinh viên, nên ngành giáo dục đã thực hiện chủ trương sắp xếp lại các trường đại học, sáp nhập nhiều trường đại học đơn ngành thành các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực để tạo điều kiện củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập. Mạng lưới các trường đại học bao gồm: Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại học vùng gồm có 4 trường, đại học chuyên ngành gồm hàng chục trường. Các trường đại học khác gồm: Đại học mở (đại học bán công), đại học dân lập, các trường dự bị đại học, trung tâm và 7. Nội dung “3 chương trình hành động” nêu ở phần Phụ lục. 17 z phân hiệu đại học,… [34, tr.
Năm 1986 và năm 1987, có 62 trường đại học và 2 trường đại học tại chức thuộc các tỉnh, thành. Ngoài ra, còn có 8 học viện, 1 trường đại học. Các trường này đảm nhận việc đào tạo hơn 230 ngành chuyên sâu với lực lượng giảng dạy rất đông đảo [92, tr. Trường, Phân hiệu Trường, Phân hiệu Năm học Tổng số Đại học 1985-1986 95 62 1986-1987 98 62 1987-1988 101 63 1988-1989 102 62 1989-1990 102 61 Nguồn [58, tr.
111] Để ngăn chặn xu hướng giảm sút quy mô đào tạo đại học, từ năm 1988, Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trương mở hệ đào tạo mở rộng nhằm huy động thêm nguồn kinh phí của người học đóng góp cho đào tạo, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ học lên đại học của người dân. Bên cạnh đó, chủ trương về đa dạng hóa các loại hình như: tại chức, chuyên tu, ngoài công lập. Trường đại học ngoài công lập đầu tiên của nước ta là Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long8 được thành lập thí điểm vào tháng 12 năm 1988. Từ năm 1990, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập hai viện đào tạo mở một trường đặt tại Hà Nội và một trường đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai viện trên có chức năng làm đầu mối thực hiện việc liên kết các trung tâm 8. Đến năm 1993 được công nhận và đổi tên là Trường đại học Dân lập Thăng Long, và được công nhận chính thức là một trường đại học tư thục vào năm 2007 với tên “Trường Đại học Thăng Long”. Từ năm 1993 một loạt các trường đại học dân lập khác ra đời. 18 z đào tạo và bồi dưỡng tại chức ở địa phương thành một mạng lưới đào tạo mở rộng ở hai vùng rộng lớn của đất nước.
Bên cạnh trường công lập do Nhà nước thành lập, các loại hình cơ sở hiện đại hóa giáo dục khác cũng có sự thay đổi thích hợp như: các trường dự bị đại học, tư thục. Cơ cấu lĩnh vực, phân bố, cấp đào tạo đại học và sau đại học có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cơ sở vật chất, ngân sách Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính là một điều kiện quan trọng để đảm bảo các mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo, góp phần nâng cao khả năng sáng tạo của cán bộ giảng dạy và sinh viên. Trong những năm 1986-1990, cơ sở vật chất của giáo dục đại học vừa thiếu, vừa lạc hậu và xuống cấp làm giảm sút chất lượng giáo dục đại học: “Tình trạng rách nát và tiêu điều trong khu vực làm việc và cảnh sống nhếch nhác trong khu ký túc xá của một số trường học đã khiến cho nhà trường mất đi tác dụng là trung tâm văn hóa, khoa học, kỹ thuật…” [57, tr.
Với tư duy đổi mới trong giáo dục, xác định giáo dục giữ vị trí trung tâm trong chiến lược con người, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Hội đồng Bộ trưởng và toàn ngành giáo dục khắc phục quan điểm sai lầm: coi giáo dục đơn thuần là phúc lợi xã hội, phi sản xuất, Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, tỷ lệ ngân sách chi năm sau tăng cao hơn năm trước. Ngân sách Nhà nước chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo tăng hằng năm. Năm 1986 là 5,83% tổng ngân sách. Năm 1990, chi ngân sách cho cho giáo dục tăng lên 8,0% [21, tr.
Tuy nhiên, ngân sách đầu tư cho giáo dục – đào tạo vẫn còn quá thấp, chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu. Vì vậy, “hầu hết các trường đều phải tranh thủ thêm sự đóng góp trực tiếp của nhân dân và các cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hóa, khoa học - kỹ 19 z thuật, của các nhà hảo tâm để tăng thêm đầu tư cho trường học, có nơi lên tới hơn 50% tổng mức đầu tư cho trường học. Riêng trong việc xây dựng trường sở, nhiều nơi, nhân dân đóng góp từ 80% tổng chi phí trở lên” [6, tr. Công tác quản lý Công tác quản lý luôn được xác định có vai trò quan trọng, từ việc hoạch định triển khai chính sách, chiến lược, kế hoạch theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra, đến việc điều hành quá trình dạy học trên cơ sở bám sát vào sự phát triển của cộng đồng.
“Mục đích cuối cùng của quản lý chính là tạo ra sự phát triển, sự chuyển đổi tích cực” [6, tr. Trong những năm 1986-1990, ngành giáo dục đã thực hiện dân chủ hóa quản lý nhà trường, tăng cường liên kết giữa nhà trường và xã hội. Sự tăng cường dân chủ hóa nhà trường trong việc bầu chức vụ quản lý các khoa, bộ môn và trong việc bầu hiệu trưởng cũng như trong việc giải quyết nhiều vấn đề của sinh viên; sự phân cấp quản lý cho nhà trường đã có tác dụng thiết thực nâng cao tính chủ động và khả năng tự quản của nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm.
“Sự chỉ đạo của Nhà nước và ngành giáo dục còn nhiều mặt chậm trễ, hướng dẫn thiếu cụ thể gây khó khăn cho việc thực hiện” [41, tr. Các chính sách đối với giáo viên chưa được đổi mới một cách đồng bộ và tương ứng với những đổi mới trong đào tạo, trong liên kết giữa nhà trường và xã hội, trong tổ chức quản lý nhà trường nên chưa tạo được đủ động lực cần thiết để thực hiện đổi mới. Đặc biệt, chưa có được những biện pháp vững chắc để ổn định đời sống của giáo viên, cán bộ công nhân viên, giải quyết nâng cao trình độ, chính sách đãi ngộ” [65, tr. Cán bộ giảng dạy và sinh viên Cán bộ giảng dạy Đội ngũ cán bộ giảng dạy là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng 20 z giáo dục đào tạo9.
Trước tình hình khó khăn chung của đất nước cũng như của ngành giáo dục, đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học đã cố gắng rất lớn vượt mọi khó khăn, để duy trì và phát huy được tính tích cực của giáo dục đại học.