CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Tổng quan về tài chính vi mô 1.1 Khái niệm tài chính vi mô Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm về tài chính vi mô (TCVM), xét trên góc nhìn khác nhau của từng tổ chức, từng chương trình và từng đối tượng mà TCVM hướng tới, bao gồm: Theo ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “ Tài chính vi mô là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ” Theo J.Ledgerwood (2013): “Tài chính vi mô là mô ̣t phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhâ ̣p thấp trong xã hô ̣i nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư. Với nhiều khái niệm khá đa dạng về TCVM được nêu ra ở trên, nhưng theo tác giả thì thể hiện tính khái quát và tương đối toàn diện hơn cả là khái niệm của Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất CGAP (LHQ): “Tài chính vi mô là hoạt động cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, dịch vụ chuyển tiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp cho họ có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống”. Như vậy, dù có thể có các cách diễn đạt khác nhau nhưng TCVM cũng luôn được dùng để mô tả hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính có quy mô nhỏ và các dịch vụ phi tài chính của các trung gian tài chính cho đối tượng là người nghèo và người có thu nhập thấp hoặc các doanh nghiệp 5 có quy mô nhỏ và siêu nhỏ.
Đặc điểm của tài chính vi mô Mỗi loại hình tài chính có những đặc điểm riêng biệt, hướng vào một phân khúc thị trường cùng với sản phẩm đặc trưng. TCVM được phân biệt với các loại hình tài chính khác bởi đặc điểm cơ bản sau: (i) Các sản phẩm dịch vụ của TCVM có quy mô nhỏ (trong đó chủ yếu là tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô) để phù hợp với điều kiện, trình độ, năng lực quản lý vốn của người nghèo, người có thu nhập thấp. Bên cạnh các sản phẩm dịch vụ tài chính,TCVM còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ phi tài chính cho khách hàng, đây có thể được xem là đặc trưng riêng có của TCVM so với các loại hình tài chính khác. (ii) Đối tượng phục vụ chính của TCVM là những người nghèo, người có thu nhập thấp, không có tài sản thế chấp.
Họ có thể đang kinh doanh nhỏ lẻ dựa vào tiềm lực kinh tế gia đình là chủ yếu, họ tham gia vào những công viê ̣c dịch vụ cho sản xuất nông nghiê ̣p truyền thống hoă ̣c ở thành thị họ là những người bán hàng trên hè phố, những thợ cắt tóc, đạp xích lô. Đôi khi, đối tượng của TCVM là những người yếu thế, dễ bị tổn thương khác như: những người tàn tật, những người dân sống ở khu vực vùng sâu, vùng xa, dễ phải chịu rủi ro từ thiên nhiên… Những đối tượng trên có tài sản thường không đáng kể và nguồn thu nhâ ̣p thấp, không ổn định nên họ rất khó tiếp cận với sản phẩm tín dụng của các tổ chức tài chính trong khu vực chính thức, các ngân hàng thương mại (NHTM). (iii) Lãi suất tín dụng vi mô của các TCTCVM cao hơn lãi suất các ngân hàng do các món vay của TCVM nhỏ. Do các khoản vay nhỏ nên chi phí hoạt động bị đội lên tính trên cùng một doanh số khi các ngân hàng cho vay những khoản vay lớn.
Ngoài ra, các TC TCVM thường cung cấp dịch vụ đến tận nơi nên đương nhiên chi phí cho tổ chức sẽ cao hơn nhưng khách hàng là người 6 được hưởng lợi do chi phí của họ giảm và cơ hội tiếp cận dịch vụ tăng. Cuối cùng, đối tượng khách hàng của các TCTCVM là những người có tài sản đảm bảo hạn chế và sống ở vùng sâu vùng xa. Những lý do trên đã giải thích cho mức lãi suất cho vay trung bình trên thế giới là gần 30%/năm. (iv) Cầu của các sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô có tính thời vụ cao.
Mặc dù tài chính vi mô được phục vụ ở cả nông thôn và thành thị nhưng do đặc điểm của khách hàng nghèo và thu nhập thấp nên TCVM vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Thu nhập của người dân ở nông thôn chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập phi nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp, làm công ăn lương thường chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính của khách hàng TCVM thường gắn liền với yếu tố mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp. Nhu cầu dịch vụ tín dụng vi mô có thể tăng đột ngột trước mùa vụ mới, khi người dân cần vốn đầu tư mua nguyên vật liệu, giống cây trồng còn nhu cầu dịch vụ tiết kiệm vi mô có thể tăng đột ngột vào cuối vụ thu hoạch mùa màng.
Vai trò của tài chính vi mô - Cung cấp các dịch vụ tài chính cho xã hô ̣i. Người nghèo cũng như các đối tượng xã hô ̣i khác cũng có những nhu cầu trong cuô ̣c sống đó là viê ̣c làm, thu nhâ ̣p, học hành, khám chữa bê ̣nh. và những nhu cầu tài chính để phục vụ cho các nhu cầu trên. Sự ra đời và phát triển của TCVM với đối tượng là khách hàng nghèo đã góp phần thoả mãn nhu cầu của họ cũng nhu nhu cầu của xã hô ̣i nói chung qua đó thúc đẩy xã hô ̣i phát triển tiến bô ̣.
- Góp phần vào sự phát triển của hê ̣ thống tài chính. Sự ra đời của TCVM góp phần bổ sung mô ̣t nguồn cung tiềm năng, phục vụ cho mô ̣t đối tượng khách hàng mà trước đó chưa được quan tâm hoă ̣c không quan tâm từ các nhà cung cấp tài chính chính thức. Xét về mă ̣t cơ cấu thị trường, sự tham gia của những nhà cung cấp dịch vụ mới sẽ làm cho thị trường mang tính 7 cạnh tranh hơn, sản phẩm dịch vụ trên thị trường trở nên đa dạng hơn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và xã hô ̣i. TCVM có thể trở thành mô ̣t tín hiê ̣u và hướng sự quan tâm của các nhà cung cấp dịch vụ chính thức, mục tiêu tìm kiếm cơ hô ̣i lợi nhuâ ̣n trong ngành mới, mà chính xác hơn là mô ̣t phân đoạn thị trường mới.
- Là công cụ thực hiện xoá đói giảm nghèo. Có nhiều giải pháp được đưa ra để giải quyết tình trạng nghèo đói, mô ̣t trong những cách thức thường được áp dụng là giúp người nghèo phát triển sản xuất bằng các viê ̣c cho vay vốn, trợ giúp kĩ thuâ ̣t sản xuất… Những biê ̣n pháp được đưa ra hiê ̣u quả hơn thường là giúp người nghèo tự tạo ra thu nhâ ̣p ổn định, qua đó dần từng bước thoát khỏi cảnh nghèo thông qua viê ̣c cung cấp các dịch vụ TCVM. Thông qua các dịch vụ TCVM, người dân nông thôn đã phần nào giải quyết được các nhu cầu về tài chính, mà còn các nhu cầu dịch vụ cho sản xuất nông nghiê ̣p nhằm tạo giá trị gia tăng cao trong sản phẩm của họ. Còn trong những điều kiê ̣n khác, sản xuất nông nghiê ̣p khó khăn, người nông dân có thể đầu tư thêm nhằm phát triển các ngành phi nông nghiê ̣p, tiểu thủ công nghiê ̣p, từ đó tạo ra nguồn thu nhâ ̣p đa dạng và ổn định cuô ̣c sống.
- TCVM góp phần giúp người nghèo tránh, giảm rủi ro về kinh tế và cuô ̣c sống. Người nghèo do không có tài sản và thu nhâ ̣p không đáng kể, nên thường hay gă ̣p những rủi ro về kinh tế, và những rủi ro trong cuô ̣c sống. Tình trạng rủi ro đã là mô ̣t trong những nguyên nhân làm cho nhiều người nghèo khó khăn trong viê ̣c thoát khỏi nghèo, vươn lên khấm khá hơn. Bằng viê ̣c cung cấp không chỉ các dịch vụ tài chính, cung cấp nguồn lực quan trọng nhằm tạo thu nhâ ̣p, TCVM còn cung cấp các dịch vụ quản lý rủi ro như, bảo hiểm cho con người, phương tiê ̣n sản xuất.
Nhờ những dịch vụ quản lý rủi ro này mà nhiều người nghèo đã dần ổn định cuô ̣c sống, thu nhâ ̣p bền vững hơn[7]. Các tổ chức cung ứng tài chính vi mô TCVM là một bộ phận của tài chính nên nó có thể được cung ứng bởi rất nhiều trung gian tài chính theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, TCVM cũng có thể được cung cấp một cách không chính thức bởi một số đơn vị, cá nhân trong xã hội. Vì vậy, có thể chia các tổ chức tham gia cung ứng TCVM thành ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức.
Các tổ chức thuộc khu vực chính thức được Chính phủ ủy quyền phải tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng. Các tổ chức bán chính thức tuy không phải tuân theo các quy định của hoạt động ngân hàng nhưng lại do các cơ quan chính phủ cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát của các cơ quan này. Các đơn vị cung cấp TCVM phi chính thức hoạt động ngoài quy định và kiểm soát của chính phủ. Sau đây là bảng tổng hợp các đơn vị cung ứng tài chính vi mô: Bảng 1.