CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI TRUNG VÀ CAO TUỔI KHI DÙNG DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG TẠI BIDV CHI NHÁNH THÀNH ĐÔ 1. Tổng quan thẻ ngân hàng 1. Sự ra đời của thẻ ngân hàng Trong suốt thế kỷ vừa qua, ngân hàng đã phát triển hoạt động và dịch vụ một cách đa dạng và phức tạp hơn. Thanh toán không dùng tiền mặt, hay thanh toán bằng thẻ chính là dịch vụ hiện đại đang đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống khác.
Tiền mặt có lịch sử tương đối lâu đời, được sử dụng để mua bán hàng hoá, tiền mặt là một trong những cách thức thanh toán phổ biến trên thế giới. Hiện nay tại Việt Nam, thanh toán bằng tiền mặt vẫn chiếm phần lớn trong mua bán hàng hoá thường ngày của người tiêu dùng, tuy nhiên theo thống kê năm 2021 giao dịch bằng tiền mặt trong thương mại chỉ chiếm 30%, còn lại là các hình thức toán điện tử. Dịch bệnh Covid đã góp phần đẩy mạnh số người dùng các phương thức thanh toán số. Một mặt do giãn cách xã hội, mặt khác mọi người cũng e ngại sử dụng tiền mặt vì nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh nên họ tìm đến các giải pháp thanh toán số.
Sự bùng nổ của thanh toán không dùng tiền mặt mới chỉ bùng nổ ở Việt Nam trong những năm dịch bệnh Covid gần đây, nhưng lịch sử của thanh toán không dùng tiền mặt, cụ thể là thẻ ngân hàng thì lại rất lâu đời, theo sự phát triển của khoa học và công nghệ thẻ ngân hàng được ra đời như một sự cải tiến với các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cũ như là một điều tất yếu. Cuối những năm 1800, các nhà buôn và người tiêu dùng Mỹ đã dùng khái niệm uy tín, tín nhiệm khi trao đổi hàng hóa, như sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền mặt. Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg-It", do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins.
Ngân hàng trả tiền cho nhà kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Điểm trừ là loại thẻ này chỉ sử dụng 5 trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng. Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một ngày, người đàn ông tên Frank McNamara đi ăn nhà hàng ở New York.
Khi thanh toán, Frank nhận ra mình không mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó, ông nghĩ ra một cách thanh toàn không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn.
Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. 9 năm sau đó, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời.
Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) được thành lập bởi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là American Express, Diners Club. cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Cũng trong năm này, chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên xuất hiện trên thị trường ngân hàng Mỹ, do Ngân hàng Delaware phát hành. Đến những năm 1970, có nhiều ngân hàng cũng đưa ra ý tưởng tương tự.
Robert Manning, tác giả cuốn sách "Quốc gia thẻ tín dụng" cho biết lượng sử dụng thẻ ghi nợ tăng nhanh chóng trong thập kỷ 1980 và 1990. Hàng loạt trạm rút tiền tự động (ATM) được lắp đặt khắp đất nước. Ngày nay, người Mỹ đang dùng nhiều thẻ ghi nợ hơn là thẻ tín dụng. Một khảo sát mới đây cho thấy khi mua sắm hàng ngày, 55% người tiêu dùng Mỹ sử dụng thẻ ghi nợ để thanh toán.
Nhiều người dùng thẻ ghi nợ vì thẻ tín dụng bị cắt hoặc họ tự nguyện ngưng dùng thẻ tín dụng để tránh việc lạm chi. Vai trò của thẻ ngân hàng đối với nền kinh tế hiện đại Hình thức thanh toán thẻ góp phần hiện đại hóa hệ thống thanh toán, đáp ứng 6 yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do việc xây dựng và phát triển hình thức thanh toán thẻ là một trong những biện pháp hiện đại hóa công nghệ thanh toán, công nghệ ngân hàng và hội nhập quốc tế. Thẻ góp phần mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường sử dụng tài khoản tại ngân hàng. Cùng với các phương tiện thanh toán truyền thống khác như séc, ủy nhiệm chi.thẻ thanh toán góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được đáng kể các chi phí sản xuất, vận chuyển và bảo quản tiền mặt.
Bên cạnh đó, phát triển các hình thức thanh toán thẻ quốc tế đã góp phần nâng cao dân trí, giúp chúng ta có cơ hội hội nhập với cộng đồng quốc tế, đồng thời tác động tốt đến việc thu hút ngoại tệ từ các chủ thẻ nước ngoài khi sử dụng thẻ tại nước ta. Dịch vụ thẻ góp một phần tạo nguồn thu ổn định cho ngân hàng thông qua việc thu phí, thu lãi từ hoạt động này, cụ thể như sau: Đối với thẻ tín dụng: Ngân hàng sẽ có nguồn thu từ phí và lãi: Thu phí phát hành, Thu phí thường niên, Thu phí chiết khấu từ ĐVCNT, Thu phí chuyển đổi ngoại tệ từ tổ chức thẻ quốc tế (chia sẻ phí chuyển đổi –Interchange Fee), Thu phí tăng hạn mức tạm thời, phí sử dụng quá hạn mức, Thu phí rút tiền mặt từ thẻ tín dụng, Thu lãi vay thông thường, Thu lãi phạt chậm trả. Tùy thuộc vào chính sách của từng Ngân hàng, từng thời kỳ mà các loại phí, lãi trên được áp dụng toàn bộ hay miễn, giảm. Đối với thẻ ghi nợ, thẻ ATM, Ngân hàng sẽ: Tăng cường thu hút tiền gửi Ngân hàng, thu hút khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng tạo nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư hoặc thu phí giao dịch.
Khái niệm và các hình thức thẻ ngân hàng Khái niệm thẻ: Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về thẻ: Thẻ -tiền điện tử là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến nhất hiện nay, nó ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời vàphát triển của ngành ngân hàng và việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngân hàng. Thẻ là một tấm thẻ nhựa chứa băng từ hoặc chíp điện tử để lưu giữ thanh toán, mọi số liệu cần thiết đã được mã hoá. 7 Thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành cấp cho khách hàng, sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đã được kí kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng số dư theo hợp đồng kí kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Hình thức của thẻ: Kể từ khi ra đời cho đến nay, thẻ ngân hàng đã có sự thay đổi khá lớn về nội dung và hình thức nhằm tăng độ an toàn và tính tiện dụng cho khách hàng. Nguyên tắc của việc chế tạo và sử dụng thẻ dựa trên một loạt nhữngthành tựu của ngành công nghệ thông tin, đặc biệt là kĩ thuật mã hoá từ tính, hiện đại nhất là công nghệ sử dụng các vi mạch điện tử.Thẻ được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thước chuẩn hoá quốc tế là 54mm*84mm, dày 1mm, có 4 góc tròn. Thẻ có 3 lớp, lõi thẻ là nhựa cứng màu trắng, ở giữa có 2 lớp nhựa cán mỏng. Màu sắc của thẻ có thể khác nhau tuỳ theo từng quy định của từng ngân hàng phát hành.
Hai mặt của thẻ chứa đựng những thông tin và kí hiệu khác nhau, cụ thể: Mặt trước thẻ: Nếu là thẻ quốc tế thì có thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế, đồng thời thể hiện loại thẻ: Visa, Master Card, American Express, JCB, Diners Club. tên của tổ chức phát hành thẻ, biểu tượng thẻ, số thẻ, họ tên, ảnh của chủ thẻ (với thẻ tín dụng). Mặt sau thẻ: Bao gồm những dải từ tính màu đen chạy dọc theo thẻ, vạch từ tính này chứa đựng những thông tin về thẻ: ngày hiệu lực, số PIN, chữ kí của chủ thẻ và lời ghi chú. Phân loại thẻ - Phân loại theo đặc tính kĩ thuật: + Thẻ khắc chữ nổi (Imbosed Card): là loại thẻ được làm dựa trên kĩ thuật khắc chữ nổi.
Đó chính là tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay người ta không còn dùng nó nữa vì kĩ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị giả mạo. + Thẻ băng từ (Magnetic Strip): thẻ được sản xuất dựa trên kĩ thuật thư tín với 8 hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ.
Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng dễ bị lợi dụng vì thông tin trong thẻ không tự mã hoá được vàchỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp. + Thẻ chíp (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán được dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học nhờ gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử khác nhau. - Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ: + Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.