MỞ ĐẦU Viêm là phản ứng quan trọng của hệ miễn dịch giúp chống lại các tổn thương mô hoặc các kích thích ngoại lai như mầm bệnh, chất gây dị ứng, hóa chất độc hại hoặc tia phóng xạ [106]. Các phản ứng viêm thường có lợi cho cơ thể, giúp cơ thể loại bỏ tác nhân gây viêm, sửa chữa tổn thương và đưa cơ thể trở về trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, khi phản ứng viêm bị rối loạn sẽ gây khởi phát và tiến triển nhiều loại bệnh khác nhau như bệnh tim mạch, bệnh đường ruột, bệnh tiểu đường, bệnh hô hấp, bệnh thận, bệnh tự miễn và nhiều loại ung thư [12, 142, 180]. Các thuốc kháng viêm được sử dụng rộng rãi hiện nay đều tiềm ẩn nguy cơ gây ra nhiều tác dụng phụ không mong muốn đối với dạ dày, thận, gan [37].
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm kiếm và sàng lọc các loại thuốc mới có tác dụng kháng viêm và ngừa ung thư, đặc biệt là các thuốc có nguồn gốc từ thực vật, ít tác dụng phụ là nhu cầu cấp thiết. Đích đến của các loại thuốc kháng viêm là các con đường truyền tin chính gây ra phản ứng viêm như NF-κB (Nuclear Factor Kappa-Light-Chain-Enhancer of Activated B Cells), MAPK (Mitogen-Activated Protein Kinase) và AA (Arachidonic acid). Trong các con đường truyền tin gây ra phản ứng viêm, con đường truyền tin NF-κB đóng vai trò quan trọng nhất. Do vậy, việc sàng lọc các chất có khả năng kháng viêm hướng đích NF-κB là hết sức cần thiết và đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu [60].
Để tìm ra các thuốc kháng viêm tiềm năng cần có những mô hình sàng lọc và đánh giá khả năng kháng viêm thích hợp. Các hướng sàng lọc thuốc kháng viêm hiện nay tập trung vào 3 hướng chính: (1) sàng lọc in silico bằng công cụ tin sinh, (2) sàng lọc in vitro trên mô hình tế bào và (3) sàng lọc in vivo trên mô hình động vật. Mỗi mô hình sàng lọc có một lợi thế riêng. Mô hình sàng lọc in silico (sàng lọc ảo) dựa vào các công cụ tin sinh có ưu điểm là giá thành rẻ, cho kết quả nhanh, sàng lọc ở quy mô lớn.
Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là có sai số giữa tính toán lý thuyết và kết quả thử nghiệm trên mô hình tế bào và mô hình động vật. Mô hình tế bào động vật, đặc biệt là mô hình đại thực bào RAW264.7 của chuột, được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sàng lọc và đánh giá hiệu quả của các chất kháng viêm tiềm năng ở mức độ in vitro [46]. Tuy nhiên, so với sàng lọc in silico, 16 mô hình này có nhược điểm là giá thành cao, khó đánh giá được lượng rất lớn các chất khác nhau trong thời gian ngắn. Mô hình động vật là mô hình quan trọng trong việc sàng lọc, phát triển các thuốc kháng viêm tiềm năng mới.
Trong các mô hình động vật, mô hình động vật gây viêm bằng carrageenan được sử dụng rộng rãi [103] do carrageenan gây viêm cấp tính tại chỗ, không sinh miễn dịch và cho kết quả có độ lặp lại cao [109, 129]. Để sàng lọc hiệu quả các chất kháng viêm tiềm năng thì việc kết hợp được cả ba hướng sàng lọc in silico, in vitro và in vivo là hết sức cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu sàng lọc và tìm kiếm các chất có tiềm năng kháng viêm và ngừa ung thư hướng đích NF-κB bằng việc kết hợp 3 mô hình sàng lọc in silico, in vitro và in vivo, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu sàng lọc chất ức chế yếu tố phiên mã NF-κB có hoạt tính kháng viêm”. Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Sàng lọc được ít nhất hai chất có khả năng ức chế protein NF-κB p50 hoặc p65 từ thư viện 200.000 hợp chất tự nhiên bằng hai phương pháp sàng lọc (1) sàng lọc in silico và (2) sàng lọc in vitro. Đánh giá khả năng kháng viêm thông qua ức chế con đường NF-κB của dịch chiết cây xương sông, cây giổi móc ở Việt Nam sử dụng các phương pháp phân tích in silico, in vitro và in vivo. Nội dung nghiên cứu: 1. Tạo thư viện cấu trúc 200.000 hợp chất tự nhiên, từ đó sàng lọc in silico được ít nhất 6 chất có tiềm năng ức chế protein NF-κB p50 hoặc p65.
Đánh giá khả năng ức chế tương tác giữa protein NF-κB (p50 hoặc p65) với κB DNA của 6 chất ức chế tiềm năng (thu được từ sàng lọc ảo) trong điều kiện in vitro sử dụng phương pháp EMSA và mô hình tế bào RAW264.7 để tìm ra ít nhất hai chất có khả năng ức chế protein NF-κB p50 hoặc p65. Đánh giá khả năng kháng viêm thông qua ức chế con đường NF-κB của tinh dầu và dịch chiết methanol cây xương sông ở Việt Nam sử dụng các phương pháp phân tích in silico, in vitro và in vivo. Đánh giá khả năng kháng viêm thông qua ức chế con đường NF-κB của tinh dầu cây giổi móc sử dụng các phương pháp phân tích in silico, in vitro và in vivo. Đóng góp mới của luận án: 1.
Sàng lọc được 02 chất có tiềm năng ức chế protein NF-κB p50 từ thư viện 200.000 hợp chất tự nhiên. Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá được khả năng kháng viêm thông qua ức chế con đường NF-κB của tinh dầu, dịch chiết methanol cây xương sông và tinh dầu cây giổi móc ở Việt Nam sử dụng các phương pháp phân tích in silico, in vitro và in vivo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận án đã sàng lọc được hai chất có tiềm năng kháng viêm thông qua việc ức chế protein NF-κB p50 từ thư viện 200.000 hợp chất tự nhiên. Các kết quả này là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc phát triển các loại thuốc kháng viêm mới.
Luận án đã đánh giá được khả năng kháng viêm của dịch chiết methanol cây xương sông, tinh dầu cây xương sông, tinh dầu cây giổi móc; đồng thời chỉ ra được đích kháng viêm của các chất có trong các dịch chiết là các protein đích của con đường NF-κB như TNF-α, IL-6, iNOS, COX-2, p-IκBα và p-p65. Các kết quả này cho thấy tiềm năng khai thác và ứng dụng dịch chiết cây xương sông và cây giổi móc trong việc điều trị các bệnh liên quan đến phản ứng viêm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. RỐI LOẠN PHẢN ỨNG VIÊM VÀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN 1.
Phản ứng viêm Viêm là phản ứng của hệ thống miễn dịch nhằm loại bỏ các kích thích có hại đối với cơ thể [106]. Các kích thích gây viêm có hại rất đa dạng bao gồm các tác nhân bên ngoài như vi sinh vật, tác nhân cơ học, vật lý, hóa học, hay các tác nhân bên trong cơ thể như các tổn thương tế bào, mô cơ thể (tắc mạch, xuất huyết), rối loạn thần kinh, phản ứng tự miễn, v. Phản ứng viêm là một quá trình bệnh lý phức tạp với các dấu hiệu gồm sưng, nóng, đỏ, đau và có thể gây rối loạn chức năng cơ thể [155]. Chức năng của phản ứng viêm là nhằm loại bỏ tác nhân gây viêm, sửa chữa các tổn thương và đưa cơ thể trở về trạng thái cân bằng ban đầu.
Phản ứng viêm có thể được chia làm hai loại là viêm cấp tính và viêm mạn tính. Viêm cấp tính Viêm cấp tính diễn ra trong thời gian ngắn từ vài phút đến vài ngày, có đáp ứng tức thời và sớm với tổn thương, có đặc điểm tiết dịch chứa nhiều protein huyết tương và xuất hiện nhiều bạch cầu đa nhân trung tính. Khả năng đáp ứng trong viêm cấp tính là huy động bạch cầu tới vị trí tổn thương để giúp làm sạch vi khuẩn và các tác nhân gây viêm khác, đồng thời tiêu hủy các mô hoại tử do viêm gây ra. Tuy nhiên, chính bạch cầu lại có thể kéo dài phản ứng viêm và gây tổn thương mô do giải phóng các enzyme, chất trung gian hóa học và các gốc oxi hóa có độc tính.
Những phản ứng cấp tính này là do sự can thiệp của hai yếu tố: yếu tố thần kinh là sự tê liệt các dây thần kinh co mạch ở các mao mạch và yếu tố thể dịch là sự giải phóng các chất trung gian hóa học như histamin, serotonin, bradykinin…[30]. Viêm mạn tính Viêm mạn tính là quá trình viêm kéo dài, có thể từ vài tháng tới vài năm. Viêm mạn tính có thể xảy ra theo sau viêm cấp do đáp ứng viêm cấp không thành công, không loại bỏ được tín hiệu gây viêm. Có những trường hợp viêm mạn tính do sự tiếp xúc liên tục và kéo dài với hóa chất độc hại, khói, bụi.
Điều này góp phần gây ra viêm mạn tính và khởi phát nhiều bệnh liên quan. Viêm mạn tính bao gồm các biểu hiện như tiết dịch nhưng sưng đỏ và nóng không rõ ràng hoặc không có; chức năng mô và cơ quan ít bị ảnh hưởng hoặc chỉ suy giảm chậm chạp; hiện tượng huy động bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính vẫn có nhưng không rõ rệt; vẫn có hiện tượng thực bào tại ổ viêm nhưng không mạnh mẽ, chỉ đủ sức khống chế yếu tố gây viêm mà không loại trừ được các yếu tố gây viêm [47]. Cơ chế phản ứng viêm Phản ứng viêm kích hoạt các con đường truyền tin và điều tiết các chất trung gian gây viêm trong các tế bào, mô. Phản ứng viêm rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào bản chất của các yếu tố kích thích ban đầu và vị trí kích thích viêm trong cơ thể.
Tuy nhiên, tất cả các phản ứng viêm đều bao gồm các bước như sau: 1) Kích hoạt các thụ thể bề mặt tế bào bởi các tác nhân gây viêm; 2) Kính hoạt các con đường viêm bên trong tế bào; 3) Giải phóng các sản phẩm của phản ứng viêm; và 4) Thu hút các tế bào miễn dịch đến vị trí viêm để loại bỏ tác nhân gây viêm, tiêu diệt mầm bệnh và sửa chữa tổn thương [98]. Kích hoạt các thụ thể bề mặt Khi xuất hiện các tác nhân gây viêm, phản ứng viêm trong cơ thể được kích hoạt thông qua các thụ thể trên bề mặt của các tế bào miễn dịch và tế bào không miễn dịch. Các nhóm thụ thể bề mặt bao gồm thụ thể giống Toll (TLR), thụ thể lectin loại C (CLR), thụ thể RIG và thụ thể giống NOD (NLR). Thụ thể TLR với hơn 10 thành viên đã được phát hiện cho đến nay là nhóm thụ thể bề mặt quan trọng kích hoạt các tín hiệu nội bào gây ra phản ứng viêm [30].
Kích hoạt các con đường viêm Các kích thích viêm kích hoạt các con đường truyền tin nội bào bao gồm (1) con đường MAPK, (2) con đường NF-κB, (3) con đường axit arachidonic (AA) và (4) con đường dẫn truyền tin Janus kinase (JAK).