CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU XOẮN KHUẨN LEPTOSPIRA VÀ BỆNH LEPTPSPIROSIS 1. Xoắn khuẩn Leptospira Chi Leptospira gồm hơn 20 loài được xác định dựa trên các nghiên cứu lai tạo DNA [8, 9].
Trong đó, chúng được chia thành hai nhóm chính: nhóm không gây bệnh và nhóm gây bệnh (phổ biến nhất là Leptospira interrogans). Chúng giống nhau về hình thái và một số đặc tính sinh học nhưng khác nhau về cấu trúc kháng nguyên và khả năng gây bệnh trên động vật [10].1: Xoắn khuẩn Leptospira interrogans (Nguồn: Depositphotos) Leptospira interrogans thuộc giới Monera, ngành Spirochaetes, họ Leptospiraceae, chi Leptospira. Các loài vi khuẩn này có kích thước nhỏ, dạng mảnh, đường kính 0. Xoắn khuẩn có dạng các vòng xoắn sát nhau (15-20 vòng) khi được quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại 10000 lần, hai đầu vi khuẩn uốn cong như móc câu, không có lông, di động mạnh, nhanh theo kiểu xoáy và bật thẳng như lò xo.
Xoắn khuẩn có Luan van 4 thể được phát hiện bằng phương pháp nhuộm thấm bạc Morosop, chúng bắt màu nâu đen trên nền vàng hoặc đỏ tím khi dung phương pháp nhuộm Giemsa [4]. Leptospira là vi khuẩn hiếu khí, phát triển ở 28oC trong môi trường có pH từ 7,2 đến 7,6. Môi trường nuôi cấy là thạch máu hoặc thạch thường có bổ sung 5-10% huyết thanh thỏ hoặc các môi trường có huyết thanh bò (bovine serum albumin – BSA). Leptospira tồn tại rất lâu trong bùn lầy, nước đọng và trong gan chuột mà vẫn giữ được độc tính, tồn tại được ở -30oC.
Chúng đề kháng kém với nhiệt độ, có thể bị tiêu diệt ở 56oC trong 10 phút, 5 phút ở 60oC, bị tiêu diệt nhanh chóng ở 100oC và các chất sát trùng thông thường như phenol, javen,…[4]. Giống như hầu hết các vi khuẩn, Leptospira cần sắt để phát triển [12]. interrogans có khả năng thu nhận sắt ở các dạng khác nhau [13]. interrogans cũng có thể lấy sắt từ heme, chất liên kết với hầu hết sắt trong cơ thể con người.
Protein liên kết với hemin HbpA, có thể tham gia vào quá trình hấp thu hemin, đã được phát hiện trên bề mặt của L. Mặc dù các loài gây bệnh khác thiếu HbpA, nhưng một protein liên kết hemin khác, LipL41, có thể giải thích cho khả năng sử dụng hemin như một nguồn sắt của chúng [14]. Leptospira phân bố ở hầu khắp các khu vực trên thế giới ngoại trừ ở vùng cực. Chúng sống sót tốt nhất trong điều kiện ấm áp, ẩm ướt và phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Thực trạng dịch tễ bệnh Leptospirosis 1. Trên thế giới Bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), do vi khuẩn Leptospira gây ra, là bệnh có khả năng lây truyền từ động vật sang người phổ biến nhất trên thế giới [1]. Nó gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi bởi khả năng tác động đến động vật đang mang thai [5]. Bệnh xoắn khuẩn có mặt ở cả vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới, xảy ra nhiều hơn vào mùa xuân và mùa thu.
Luan van 5 Bệnh xoắn khuẩn đã được ghi nhận ở khắp nơi trên thế giới, tập trung ở châu Phi, Nam Mỹ, châu Á và gây ra nhiều thiệt hại cho sức khỏe con người cũng như ngành chăn nuôi. Trong số các tác nhân trung gian truyền bệnh, các loài gặm nhấm như chuột được cho là nguồn lây truyền nguy hiểm nhất do sự phổ biến của chúng [1]. Bên cạnh đó, các loài động vật có vú khác cũng có khả năng truyền bệnh cao: chó, bò, thỏ, hươu,… điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn ở các khu vực kém phát triển do tiếp xúc nhiều với các loài động vật.2: Con đường lây truyền của bệnh Leptospirosis (Nguồn: Vernon Ansdell, 2012, Leptospirosis) Trước đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống kê mỗi năm có khoảng 7 -10 triệu người nhiễm xoắn khuẩn vàng da với tỉ lệ ước tính từ 0.1- 1/100000 ở vùng khí hậu ôn đới và 10-100/100000 ở vùng khí hậu nhiệt đới. Ở các vùng có nguy cơ bùng phát dịch cao như Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á tỉ lệ này sẽ tăng lên trên 100/100000.
Ở những nước đang phát triển, người mắc bệnh chủ yếu là nông dân và người nghèo [15]. Nhiều trận dịch Leptospirosis đã được ghi nhận và đặc biệt thường đi kèm các thảm họa thiên nhiên như tại Orrisa năm 1999, lũ lụt ở Jakarta năm 2002, Mumbai năm 2005, Srilanka năm 2008. Ngoài ra, một số nơi đã ghi nhận tình trạng bùng phát dịch bệnh theo mùa như ở Thái Lan và một số vùng khác của Ấn Độ. Ngoài ra, năm 1995, một đợt dịch bệnh lớn đã xảy ra ở Nicaragua, một nước thuộc Luan van 6 vùng Trung Mĩ, do nước lũ mang mầm bệnh Leptospirosis có trong nước tiểu của chó.
Sau mỗi đợt dịch bùng phát, bệnh Leptospirosis gây thiệt hại lớn về kinh tế và có diễn biến ảnh hưởng trực tiếp tính mạng của con người. Hiện nay, số ca nhiễm đã giảm đi rất nhiều nhưng con số tử vong vẫn lên tới 58. Chẩn đoán Leptospirosis được xác nhận thông qua các xét nghiệm miễn dịch như ELISA hoặc sinh học phân tử như PCR. Nhưng biện pháp chính xác nhất là xét nghiệm huyết thanh học MAT (Microscopic Agglutination Test) [17].
Bệnh Leptospirosis lây truyền qua đường da, niêm mạc hoặc do tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với màng nhầy, nước tiểu, mẫu mô động vật đã nhiễm khuẩn. Như vậy, các đối tượng có thể nhiễm bệnh có thể là con người, động vật hoang dã, chuột, chó, gia súc, trong đó chuột là vật chủ lan truyền bệnh chính. Thời gian ủ bệnh của Leptospirosis kéo dài từ 2 đến 20 ngày, sau đó là hai giai đoạn chính là nhiễm trùng và miễn dịch. Leptospirosis được đặc trưng bởi xuất huyết, vàng da, đau cơ, suy thận và viêm màng não vô trùng [18].
Khi đã nhiễm khuẩn, thể bệnh có các biểu hiện lâm sàng như nhiễm khuẩn thể ẩn, hội chứng nhiễm độc toàn thân, tổn thương gan, thận và hội chứng Weil ở người. Xuất huyết khuếch tán phổi (PDH), một loại leprospirosis lâm sàng nghiêm trọng, dẫn đến tử vong trong một phần tư bệnh nhân bị ảnh hưởng [19]. Một đặc điểm phổ quát của bệnh Leptospirosis là khả năng ký sinh trong ống thận các động vật hoang dã và vật nuôi. Nhiễm trùng Leptosira spp.
thích nghi với vật chủ có thể dẫn đến phá hủy hệ thống tiết niệu. Ở động vật, bệnh Leptospirosis gây tình trạng thai chết lưu, giảm khả năng sinh sản, giảm năng suất và gây tử vong qua đó thiệt hại lớn về kinh tế. Ở người, có từ 5 đến 15% các trường hợp nhiễm Leptospirosis xuất hiện biến chứng đa cơ quan nghiêm trọng với tỉ lệ tử vong từ 5 đến 40%. Ngoài nguồn lây nhiễm chính cho con người là từ nước tiểu động vật mắc bệnh, bùn đất và nước bị ô nhiễm ở sông, hồ, đồng ruộng, ao cũng là nguyên nhân thứ phát lan truyền bệnh.
Vì vậy, đối chiếu với các số liệu thống kê dịch tễ cho thấy, những người thường làm việc trong một số nhóm ngành nghề cụ thể như nông dân, công nhân vệ sinh, bác sỹ thú y hoặc người thường xuyên tiếp trực tiếp với động vật sẽ có nguy cơ Luan van 7 cao nhiễm bệnh. Do tính phổ biến và cấp thiết của bệnh, Leptospirosis đã được Tổ chức Sức khỏe động vật Thế giới (World Organization for Animal Health-OIE) xếp vào nhóm thứ 2 của Bệnh nguy hiểm và được bổ sung vào nhóm bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam. interrogans thường cư trú ở chuột nâu (Rattus norvegicus) và tồn tại một thời gian dài trong ống thận của đối tượng nhiễm bệnh. interrogans thường cư trú ở chuột nâu và tồn tại một thời gian dài trong ống thận của đối tượng nhiễm bệnh.
interrogans có thể sống trong môi trường nước ngọt, đất ẩm, bùn, thảm thực vật đến vài tháng. Khi có mưa, lũ lụt lớn sẽ tạo điều kiện bùng phát thành dịch. Bên cạnh xoắn khuẩn L. interrogans, có hơn 230 kiểu huyết thanh (serovar) thuộc chi Leptospira được chia làm 11 kiểu gen loài khác nhau gây bệnh Leptospirosis.
Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa trên các xét nghiệm huyết thanh học. Mặc dù các liệu pháp kháng sinh vẫn được sử dụng, tuy nhiên bệnh Leptospriosis vẫn là mối đe dọa nguy hiểm cho các quốc gia thuộc vùng ôn đới và nhiệt đới đang phát triển, nơi mà các thành thị và nông thôn có điều kiện vệ sinh không đạt chuẩn, nước thải xử lý kém. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm tránh có khả năng bị ô nhiễm. Nước ngọt, đất ẩm, hoặc bùn bất cứ khi nào có thể, mặc quần áo bảo hộ và che thắt và mài mòn với băng không thấm nước.
Nên tránh chìm, bởi vì sinh vật có thể đi qua màng nhầy của mắt, mũi, miệng. Nước uống có khả năng bị ô nhiễm luộc hoặc xử lý bằng iốt hoặc clo. Lọc đơn giản có thể không cung cấp bảo vệ đầy đủ. Chemoprophylaxis có thể được chỉ định trong ngắn hạn, rủi ro cao tình huống.
Doxycycline, 200 mg mỗi tuần một lần, bắt đầu trước tiếp xúc đầu tiên và kết thúc sau khi tiếp xúc cuối cùng có thể, dường như có hiệu quả Khách du lịch đến sốt rét-khu vực đặc hữu cũng có nguy cơ bị Leptospirosis có thể được bảo vệ chống lại cả hai Nhiễm trùng bằng cách dùng doxycycline, 100 mg mỗi ngày, một trong những chế độ hóa học được khuyến nghị chống lại sốt rét chloroquineresistant (CRPF). Tại Việt Nam Leptospirosis được phát hiện trên người lần đầu vào năm 1931 bởi Ragiot và cộng sự. Năm 1964 đã ghi nhận một trận bùng phát của bệnh tại Lai Châu gây thiệt hại cho cả người và gia súc. Hiện nay, Việt Nam vẫn nằm trong vùng dịch tễ cao của bệnh xoắn khuẩn.
Các số liệu thống kê cho thấy, tổng số ca mắc xoắn khuẩn được ghi nhận tại Việt Nam trong gia đoạn 2002 – 2011 là 369 ca và không có trường hợp tử vong. Người mắc bệnh thường làm các công việc: công nhân vệ sinh môi trường nước, công nhân chăn nuôi, cán bộ địa chất, lâm nghiệp. Mặc dù bệnh luôn tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cao cho người và động vật nhưng lâu nay ít được chú ý cả về mặt pháp luật cũng như ý thức của người dân, người chăn nuôi. Việc mua bán gia súc bừa bãi, không được kiểm soát chặt chẽ về mặt thú y làm cho nguy cơ nhiễm bệnh trên gia súc ngày càng tăng, đồng thời cũng tăng nguy cơ lây nhiễm sang người [20].
Một nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn tại 4 tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Lào Cai cho thấy con số này là 7,78%. Trong nghiên cứu khác, tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm bệnh ở vật nuôi tương đối cao. Cụ thể, Tỷ lện nhiễm ở bò lên tới 23,85%, ở chó là 20,59% và trên lợn là 17,46%.