CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH VÀ NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM 1. Nhu cầu sử dụng nước sạch 1. Vấn đề nước sạch ở Việt Nam Việt Nam đang trong quá tr ình phát tri ển kinh tế xã hội nên nhu cầu sử dụng nước tăng mạnh. Vào thời điểm ngày 01 tháng 4 năm 2014, tổng số dân của Việt Nam (trừ 5 huyện đảo nhỏ: Bạch Long Vĩ, C ồn Cỏ, Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo) là 90.
Với quy mô dân số gần 90,5 triệu người, vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng các nước đông dân trên thế giới và trong khu vực vẫn không thay đổi so với năm 2009 (thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á). Theo kết quả này, tỷ lệ tăng dân số bình quân trong 5 năm sau Tổng điều tra là 1,06%/năm. Đây là thời kỳ có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất trong vòng 35 năm qua [1]. Tại VN hiện có khoảng 41 triệu người dân nông thôn chưa có nước sạch (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành năm 2009).
Chỉ có 8% dân số nông thôn có nước máy tại nhà hoặc có đường ống dẫn nước vào sân, 82% có thể lấy nước từ các nguồn đã được cải thiện ở bên ngoài nhà, và 10% vẫn phải lấy nước từ các nguồn chưa được cải thiện (theo báo cáo của ADB - Ngân hàng Phát triển châu Á). Lịch sử phát triển dân số Việt Nam ( Triệu dân) 92000 90493 89716 90000 88776 87840 88000 86933 86025 86000 85118 84218 84218 84000 82392 82000 80000 78000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Lịch sử phát triển dân số Việt Nam ( Triệu dân) Hình 1.2 Lịch sử phát triển dân số Việt Nam từ 2005 đến 2014 Theo báo cáo tổng hợp về tác động kinh tế từ vấn đề vệ sinh tại VN - Chương trình nước và vệ sinh khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (WSP -EAP) của WB năm HV: NGUYỄN VŨ BẰNG Page 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUYÊN 2008, trung bình VN có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém mỗi năm. Phần lớn trong số gần 200.000 người mắc bệnh ung thư được phát hiện có nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước (theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2014). Nói đến trữ lượng nước, nhiều người lầm tưởng VN là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước dồi dào với mạng lưới sông ngòi dày đ ặc và bờ biển trải dài.
Thực tế VN hiện nằm trong nhóm quốc gia thiếu nước khi trữ lượng nước bình quân trên đ ầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840m3, thấp hơn mức trung bình 4.000m3 theo Hội Tài nguyên nước quốc tế (IWRA) [2]. Theo ước tính, lượng nước ngọt cần dùng vào năm 2014 sẽ là 130 tỷ m3. Mức này gần tương đương với nguồn nước vào mùa khô trên các lưu vực sông của cả nước. Như vậy, việc thiếu nước ngọt đã rất rõ ràng.
Nước sử dụng trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ khoảng 2% so với tổng nhu cầu. Nếu đối chiếu với tiêu chuẩn thiếu nước của Tổ chức Khí tượng thế giới và của UNESCO, năm 2013 nhiều vùng ở Việt Nam thiếu nước ở mức từ trung bình đến gay gắt, đặc biệt trong các tháng mùa khô. Vì thế, Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015, tại Quyết định số 366/QĐ-TTg [3] mục tiêu từng bước thực hiện hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020, cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn. Về cấp nước: 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt quy chuẩn QCVN 02-BYT với số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày; 100% các trường học mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch.
Đây là nhiệm vụ nặng nề và khó khăn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam. Để giải quyết tình trạng này, ngoài việc quán triệt tư tưởng sử dụng nước tiết kiệm, cần phải tìm kiếm thêm nhiều giải pháp cấp nước khác nhau. Một số giải pháp sau đây đã và đang được nước ta cũng như các nước khác trên thế giới nghiên cứu và áp dụng để sản xuất và sử dụng hiệu quả nguồn nước ngọt: - Xây dựng nhiều hồ chứa để tích trữ nước. Giải pháp này đang ngày càng ít được sử dụng do giá cả đất đai ngày càng tăng cao.
- Nghiên cứu và xây dựng hệ thống xử lý nước thải để tái sử dụng cho các ngành công nghiệp. Đây được xem như giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn nước ngọt. - Nghiên cứu và xây dựng hệ thống sản xuất nước ngọt từ nước biển… - Nghiên cứu sản xuất nước sạch thải công nghiệp thành nước sạch… - Nghiên cứu và xây dựng hệ thống xử lý nước ngọt. Nguồn nước được lấy từ các sông, suối, ao, hồ, nước nhiễm phèn… HV: NGUYỄN VŨ BẰNG Page 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUYÊN 1.
Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam và Thế giới 1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới a) Các nguồn nước Trên hành tinh của chúng ta phát nước sinh từ 3 nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch ngoài quả đất mang vào và từ tầng trên của khí quyển; trong đó thì nguồn gốc từ bên trong lòng đất là chủ yếu. Nước có nguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của quả đất do quá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao tạo ra, sau đó theo các khe nứt của lớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ ngoài thì biến thành thể hơi, bốc hơi và cuối cùng ngưng tụ lại thành thể lỏng và rơi xuống mặt đất. Trên mặt đất, nước chảy tràn từ nơi cao đến nơi thấp và tràn ngập các vùng trủng tạo nên các đại dương mênh mông và các sông hồ nguyên thủy.
Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên trái đất khoảng 1,4 tỉ km3 , nhưng so với trử lượng nước ở lớp vỏ giữa của qủa đất ( khoảng 200 tỉ km3 ) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến 1%. Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các tác giả và dao động từ 1. Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại là nước ngọt. Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường, nó còn là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật, chiếm từ 50% -97% trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở người nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và ở Sứa biển nước chiếm tới 97%.
Trong 3% lượng nước ngọt có trên quả đất thì có khoảng hơn 3/4 lượng nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên lục điạ. chỉ có 0, 5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính ra trung bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng (Miller, 1988).1 Trữ lượng nước trên thế giới (theo F. Sargent, 1974) Loại nước Trữ lượng (km3) Biển và đại dương 1.000 Băng và băng hà 26.000 Hồ nước ngọt 125.000 Hồ nước mặn 105.000 Khí ẩm trong đất 75.000 Hơi nước trong khí ẩm 14.000 Tuyết trên lục địa 250 b) Tình hình sử dụng Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn.
Lúc đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài HV: NGUYỄN VŨ BẰNG Page 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS NGUYỄN VĂN TUYÊN thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở mới tốt đ ẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng. Tình hình thayđổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.
Ðô thị trở thành những nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càng ngày càng trở nên nan giải. Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10%cho sinh hoạt. Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia.
Thí dụ: Ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991). Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho công nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí. Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế g iới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp.
Theo đà phát triển của nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2000 nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần so với năm 1900.