Chương 1 – Tổng quan Trang 7 Tháng 06/2013 Đại Học Bách Khoa TP.HCM Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sỹ Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh HVTH: Đinh Tiến Liêm 1. Hiện trạng nguồn cấp nước khu vực nhà máy điện Vĩnh Tân 2 1. Hiện trạng nguồn nước khu vực huyện Tuy Phong Do đặc điểm mưa ít, nắng nhiều, địa hình chật hẹp và dốc, diện tích thực vất thưa thớt, nước sông và nước ngầm hạn chế. Nguồn nước chính lấy từ hai hồ: Long Sông và Đá Bạc, với tổng lưu lượng 159.
Trong đó, Sông Lòng Sông 407,000 m3/ngày, sông Đá Bạc 29,400 m3/ngày. Nói chung, lưu lượng hai dòng sông không đều, thấp vào mùa khô và các dòng sông khác chỉ có nước chảy vào mùa mưa. Nước ngầm: hiện nay chưa có khảo sát thực tế về nước ngầm trong khu vực, theo kết quả khảo sát của công ty cấp nước, Nước ngầm không đủ và lệ thuộc vào dòng chảy ngược (backflow) của nước biển. Nguồn nước trên không đủ dùng cho tưới tiêu và sinh hoạt của người dân trong huyện.
Đặc biệt trong mùa khô, vì vậy cần nghiên cứu khả năng chứa nước, khai thác và cân bằng nguồn nước trong khu vực. Nguồn nước mặt: không có dòng sông nào chảy qua khu vực xã Vĩnh Tân, chỉ có một vài dòng suối nhỏ, cho nên trong mùa khô lượng nước ngọt cạn kiệt, nguồn nước chủ yếu lấy từ khu vực khác để cung cấp cho người dân trong xã, vì vậy việc sản xuất và đời sống của dân địa phương bị hạn chế. Nguồn nước ngầm: Kết quả khảo sát thực tế cho biết nguồn nước ngầm có sẵn không đều. Mẫu nước lấy từ nước sinh hoạt của người dân địa phương cho thấy chất lượng nước ngầm bị nhiễm phèn và nhiễm mặt.
Khu vực toàn huyện Tuy Phong theo thống kê có 2 hồ chứa và 15 đập dâng. Ngoài công trình hồ sông Lòng Sông với dung tích hữu ích: 36.8 triệu m3, tưới cho 4,260 ha (tự chảy 4,000 ha và bơm: 260ha) đất canh tác và cấp nước sinh hoạt cho 53,000 người thuộc các xã Phong Phú, Phú Lạc, Liên Hương, Phước Thể và hồ Đá Bạc dung tích hữu ích: 4.39 triệu m3 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 1999, phát huy tưới khoảng 170 ha, còn lại hầu hết các công trình thủy lợi nhỏ từ vài chục ha, chủ yếu phục vụ cho đồng bào miền núi. Riêng đối với xã Phan Dũng có 5 công trình dạng đập chà bổi (đá đổ cọc cừ) nên hư hỏng nặng, trong những năm gần đây đã kiên cố được 2 công trình là đập Phan Dũng và đập Phùm đang thi công dự kiến hoàn thành cuối năm 2002. Trên địa bàn còn có công trình đập Tuy Tịnh tưới chủ động (vụ hè thu) khoảng 983 ha, công trình này thuộc hệ thống hồ sông Lòng Sông.
Công tác thủy lợi trên địa bàn huyện Tuy Phong đã đầu tư xây dựng như hồ Đá Bạc, hồ sông Lòng Sông… tương đối lớn. Tuy nhiên, đối với các xã vùng cao Phan Dũng, Phong Phú … Do địa hình miền núi chia cắt nhiều, diện tích đất canh tác nhỏ, kinh phí đầu tư công trình những năm trước đây còn hạn chế, nên việc đầu tư thủy lợi chỉ ở mức độ đập dâng nhỏ mang tính tạm thời, vì vậy về mùa lũ công trình dễ bị hư hỏng ảnh hưởng đến năng lực tưới. Ngoài ra, một số đập do đồng bào dân tộc tự làm nên không đảm bảo về kỹ thuật nên phát huy tưới rất thấp. Hồ thuỷ lợi Lòng Sông hiện đang cấp nước tưới cho 4,200 ha đất sản xuất và nước sinh hoạt cho toàn huyện Tuy Phong.
Trong đó, tuyến kênh Tuy Tịnh phục vụ tưới 1,500 ha, kênh Cây Cà 2,500 ha. Hiện nay, tuyến kênh Tuy Tịnh đã hoàn thành Chương 1 – Tổng quan Trang 8 Tháng 06/2013 Đại Học Bách Khoa TP.HCM Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sỹ Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh HVTH: Đinh Tiến Liêm vào cuối mùa khô 2004 -2005 và đang cung cấp nước tưới cho 1,200 ha lúa và 1.460 ha cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại rau màu. Nhà máy điện Vĩnh Tân 2 có thể sử dụng nước ngọt từ hồ Đá Bạc và hồ Lòng Sông, tuy nhiên cần thiết phải xử lý nước trước khi đưa vào trong nhà máy. Để đáp ứng nhu cầu nước ngọt cần có kế hoạch nối thông hồ Đá Bạc với hồ Lòng Sông để đảm bảo nhu cầu nước ngọt trong trường hợp nguồn nước đổ về hồ Đá Bạc thấp.
Tuyến đường ống cấp nước ngọt từ hồ Lòng Sông hiện đã dẫn về đến xã Liên Hương cách Vĩnh Tân khoảng 18km. Tuy nhiên, hiện tại tuyến kênh dẫn nối hồ Lòng Sông và hồ Đá Bạc vẫn chưa được thực hiện và vẫn chưa có kế hoạch cụ thể do không có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng. Các hình thái cấp nước hiện đang sử dụng trong khu vực Hiện nay việc cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt cho người dân nông thôn tỉnh Bình Thuận vẫn là một trong những nhiệm vụ khá lớn đặc biệt đối với các xã miền núi lại càng bức xúc hơn. Trong những năm qua, mặc dù việc cấp nước phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt cho các xã miền núi đã được Đảng và nhà nước, các cấp và các tổ chức Quốc tế quan tâm đầu tư song cũng chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thực tế.
Số lượng những công trình cấp nước theo kiểu tập trung còn rất hạn chế (13 CT), chủ yếu nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt được khai thác từ các giếng đào (chiếm 48.55% người sử dụng). Các công trình giếng khoan tay kiểu UNICEF chỉ tập trung ở một số huyện phía Đông Bắc của tỉnh (Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc) nhưng với số lượng không nhiều. Cũng như các địa phương khác của miền Nam Trung Bộ, việc khai thác và sử dụng nước một cách có tổ chức có thể còn đang ở những giai đoạn đầu. Các hộ dân cư sinh sống ở miền núi từ trước tới nay phần lớn đã tận dụng tất cả các nguồn nước tùy theo điều kiện tự nhiên và kinh tế của gia đình mình.
Nước giếng khơi, nước suối và nước mạch lộ tự chảy đã trở thành nguồn cấp nước chủ cho người dân địa phương. Hầu như gia đình nào cũng có những phương tiện dù to hay nhỏ để lấy và trữ nước sinh hoạt hàng ngày, nhất là vào thời kỳ khô hạn. Trong những năm gần đây, do những biến động về thời tiết, tốc độ chặt phá rừng đầu nguồn và tốc độ khai thác nước tăng đã dẫn đến tình trạng nhiều vùng trong tỉnh mực nước ngầm bị tụt xuống, nước suối bị cạn kiệt vào mùa khô, nhiều mạch nước bị giảm lưu lượng. Hiện tượng đó đã dẫn đến tình trạng người dân phải suy nghĩ đầu tư khai thác sử dụng các nguồn nước ổn định và khó khăn hơn.
Qua kết quả điều tra khảo sát cho thấy, tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước các xã miền núi trong tỉnh như sau : 1. Giếng khoan: Số lượng các giếng khoan tay dạng UNICEF sử dụng phục vụ cấp nước sinh hoạt khá lớn song tập trung chủ yếu ở các xã có nguồn nước ngầm phong phú và không bị nhiễm mặn. Các giếng khoan khai thác nước trong tầng chứa nước bở rời Đệ Tứ. Chiều sâu khai thác từ 10 đến 40m, nhưng phổ biến nhất vẫn là độ sâu 20 – 25 m.
Số lượng giếng khoan phân bố trên địa bàn các xã miền núi phân theo huyện cũng khác nhau : Hàm Thuận Bắc (237 giếng khoan) ; Bắc Bình (975 giếng) ; Hàm Thuận Nam (146 giếng). Trong khi đó, số huyện còn lại trong tỉnh nằm trên diện lộ của đá gốc nên rất nghèo nước có lượng giếng khoan khai thác Chương 1 – Tổng quan Trang 9 Tháng 06/2013 Đại Học Bách Khoa TP.HCM Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sỹ Bộ môn Công Nghệ Nhiệt Lạnh HVTH: Đinh Tiến Liêm nước ngầm rất ít như huyện Tánh Linh (250 giếng) ; Đức Linh (35 giếng). Chiều sâu các giếng khoan từ 30 – 40 m trong các trầm tích bở rời cuội sỏi ven các hệ thống sông, 50 – 100 m tại các chân đồi cát đỏ… Tổng số giếng khoan tay cấp nước nông thôn các xã Miền núi hiện nay so với toàn tỉnh là 1783/3732 giếng, với 16,607/32,540 người sử dụng, chiếm 2.69% tổng dân số nông thôn miền núi toàn tỉnh. Giếng khơi: Bao gồm giếng cải tạo và giếng xây mới là hình thức chủ yếu được các hộ gia đình sử dụng.độ sâu các giếng phổ biến 4 – 5 m (đối với vùng cồn cát ven biển), 6 – 8 m (đối với vùng đồng bằng), 12 – 18 m (đối với vùng gò, đồi) và < 30 m (đối với vùng núi) Khả năng phục vụ của một giếng từ 1 đến 2 hộ gia đình, dụng cụ lấy nước là gầu sách tay hoặc tời quay tay, một số giếng sử dụng bơm điện để khai thác nước.
Hiện nay vùng nông thôn miền núi Bình Thuận công trình khai thác nước phục vụ sinh hoạt chủ yếu là giếng khơi. Theo điều tra thống kê đối các xã miền núi trên toàn tỉnh có khoảng 42,648 giếng khơi, với 288,426 người sử dụng, chiếm 48.55% tổng số dân miền núi. Tỷ lệ dân số được sử dụng nước cao nhất từ loại hình này là huyện Tánh Linh (chiếm 79.96% dân số toàn huyện), tiếp theo là huyện Đức Linh (chiếm 79.Huyện có tỷ lệ dân số miền núi sử dụng nước giếng đào thấp nhất là huyện Hàm Thuận Bắc (chiếm 25.35% dân số toàn tỉnh). Bể nước mưa: Những vùng sử dụng nước mưa chỉ đảm bảo nước sinh hoạt trong mùa mưa, còn mùa khô hoàn toàn thiếu nước do không có dụng cụ để chứa và điều kiện sống của người dân nông thôn miền núi tỉnh Bình Thuận hiện còn tương đối khó khăn.
Trong những hộ dùng nước mưa hầu hết là sử dụng bể chứa nước hoặc sử dụng lu, bồn, phi nhỏ nên chỉ đủ sử dụng trong vài ngày. Tổng số bể chứa nước mưa hiện nay trên địa bàn các xã miền núi trong toàn tỉnh khoảng 4,314 bể, lu với dung tích 2 –6 m3. Ngoài các loại công trình cấp nước đơn lẻ kể trên, người dân nông thôn tỉnh Bình Thuận còn sử dụng bể lọc sắt và bể lọc chậm để xử lý nước phục vụ cấp nước sinh hoạt nhưng chủ yếu là do UNICEF tài trợ. Hệ thống cấp nước tập trung: Do đặc điểm địa hình, địa chất, địa chất thủy văn và sự phân bố dân cư nên hệ thống cấp nước tập trung của Bình Thuận phổ biến được xây dựng dưới hình thức bơm dẫn hoặc kết hợp giữa bơm dẫn và tự chảy.
Loại hình bơm dẫn kết hợp với tự chảy có ở Sông Phan (xã Tân Nghĩa), Sông Lũy (xã Sông Lũy).