MỞ ĐẦU Asparaginase (EC 3.1) hay còn có tên gọi khác là L-asparaginase amidohydrolase; asparaginase II; L-asparaginase; colaspase; elspar; leunase; crasnitin; α-asparaginase. Asparaginase là một đại phân tử có cấu trúc phân tử là C1377H2208N382O442S17. Asparaginase là enzym xúc tác cho quá trình thủy phân axit amin L-asparagine thành axit aspartic và ammonia. Hiện nay, asparaginase thường được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm hoặc dược phẩm.
Trong công nghiệp thực phẩm, asparaginase được sử dụng như là chất phụ gia được dùng để bổ sung vào quá trình chế biến thực phẩm nhằm làm giảm sự hình thành acrylamide trong thực phẩm. Hãng Novozymes (Đan Mạch) và DSM (Pháp) đã sản xuất và thương mại hóa thành công asparaginase tái tổ hợp từ các chủng nấm sợi biến đổi gen tương ứng là A. niger để ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm. Tên thương mại của sản phẩm asparaginase từ A.
oryzae là Acrylaway® còn asparaginase từ A. Niger là PreventASeTM. Trong khuôn khổ của đề tài này, nhóm đề tài của đề tài "Nghiên cứu sản xuất enzym asparaginase tái tổ hợp, ứng dụng giảm lượng acrylamide tạo thành trong sản xuất bánh nướng" đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất asparaginase từ chủng P. pastoris SMD1168 tái tổ hợp mang gen pPIC9asp2 trên hệ thống lên men chìm sục khí 5 lít.
Bằng phương pháp điện di kiểm tra trên gel acrylamide, ép gel định tính hoạt tính và định lượng bằng phương pháp so màu cho thấy trong các lần lên men, asparaginase đã được biểu hiện thành công và có hoạt tính. Tạo chế phẩm asparaginase dạng bột bằng phương pháp đông khô có bổ sung chất bảo vệ là maltodextrin với tỷ lệ maltodextrin : dịch enzym là 0,5:1 (w/v). Chế phẩm có hoạt độ asparaginase khoảng 3800 U/g, độ ẩm 5%. Với mong muốn sản xuất thử nghiệm asparaginase ở quy mô lớn, chúng tôi đã tiến hành thực hiện nội dung ”Nghiên cứu công nghệ sản xuất asparaginase trên hệ thống lên men chìm sục khí 100 lít” dựa trên các thông số của quy trình lên men trên hệ thống lên men chìm sục khí 5 lít.
Phạm Nguyệt Hằng 1 Lớp: CNSH-1103 MỤC TIÊU Có được các thông số công nghệ của quy trình lên men sản xuất asparaginase từ P. pastoris SMD1168-pPIC9asp2 trên hệ thống thiết bị lên men chìm sục khí dung tích 100 lít NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu sản xuất asparaginase trên hệ thống lên men chìm sục khí 100 lít ở tốc độ khuấy 250 rpm - Nghiên cứu sản xuất asparaginase trên hệ thống lên men chìm sục khí 100 lít ở tốc độ khuấy 300 rpm - Nghiên cứu sản xuất asparaginase trên hệ thống lên men chìm sục khí 100 lít ở tốc độ khuấy 350 rpm - Nghiên cứu thu hồi asparaginase - Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất enzyme asparaginase trên hệ thống lên men chìm sục khí 100 lít Phạm Nguyệt Hằng 2 Lớp: CNSH-1103 PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về asparaginase 1. Sự phân bố của asparaginase trong tự nhiên Asparaginae được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau trong tự nhiên như thực vật, vi sinh vật như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn vv.
Vi sinh vật thường được sử dụng cho sản xuất L-asparaginase là Erwinia caratovora, Bacillus sp., Corynebacterium glutamicum và E. coli (Ashraf et al, 2003; Cammack. et al, 1972; Wade. Nguồn vi khuẩn: Vi khuẩn thường được sử dụng cho sản xuất L-asparaginase là Erwinia caratovora, Bacillus sp., Corynebacterium glutamicum và E.
coli (Ashraf et al, 2003; Cammack. et al, 1972; Wade. Tổng hợp asparaginase từ hai dòng đột biến, WF và 933 của Serratia marcescens được nghiên cứu. Thành phần môi trường lên men khác nhau ảnh hưởng đến sản lượng enzym.
Sản lượng enzyme tối đa khi trong môi trường lên men chứa glycerol peptone. Bên cạnh đó, quá trình lên men sản xuất asparaginase cũng chịu ảnh hưởng của một số tác nhân như nguồn carbon, nguồn nitơ với các thông số khác như độ pH, nhiệt độ. Nguồn nấm men và nấm mốc: Sản xuất của asparaginase từ các chủng khác nhau của nấm đã được ghi nhận. Các chủng sản xuất asparaginase thường sử dụng là Aspergillus tamarii, Aspergillus terreus, A.
Nguồn xạ khuẩn: xạ khuẩn phân lập từ đất vùng rễ của cây thuốc Thái có khả năng sinh tổng hợp asparaginase. Xạ khuẩn biển cũng được phân lập từ các mẫu trầm tích vùng ven biển Parangipettai và Cochin ở Nam Ấn Độ. Sản xuất và tinh chế asparaginase bởi Streptomyces tendae TK-VL_333. Nguồn thực vật: Một loạt các loài thực vật được mô tả có khả năng sinh asparaginase.
Ớt xanh (Capsicum annum L.) và me (Tamarindus indica) chứa lượng asparaginase nhất định. Gen mã hóa cho enzyme asparaginase được phân lập từ thực vật bởi Lupinus angustifolius. Tuy nhiên, asparaginase thu từ các chủng tự nhiên thường có sản lượng thấp, như E. coli 0 - 255 U/g (đơn vị/g tế bào khô), Erwinia caratovora 40 - 450 U/g, Serratia marcescens 100 - 335 U/g (Gulati et al.
niger 70 U/l (Ferrara et Phạm Nguyệt Hằng 3 Lớp: CNSH-1103 al. Cấu tạo và đặc tính Asparaginase (EC 3.1) hay còn có tên gọi khác là L-asparaginase amidohydrolase; asparaginase II; L-asparaginase; colaspase; elspar; leunase; crasnitin; α-asparaginase. Asparaginase là một đại phân tử có cấu trúc phân tử là C1377H2208N382O442S17. Asparaginase là enzym xúc tác cho quá trình thủy phân axit amin L-asparagine thành axit aspartic và ammonia.
L-asparaginase là một enzym bao gồm 4 tiểu phần với tổng cộng 321 amino acid. Tinh thể hình kim hay hình trụ, rất tan trong nước, không tan trong methanol, acetone, chloroform. Độ bền vững: dạng tinh thể bền với nhiệt, pH, ánh sáng. Khoảng pH bền vững 6,0 - 8,5.
Điểm đẳng điện trong khoảng từ 5,0 - 6,8. Khối lượng phân tử khoảng 160 kDa. Nhiệt độ tối ưu của một số vi sinh vật cho sản xuất enzym khoảng 37oC. Ứng dụng trong y học Asparaginase được ứng dụng để điều trị bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính (ALL).
Nó cũng có thể được sử dụng để điều trị một số căn bệnh về máu khác. Asparaginase làm phân hủy một hóa chất trong các tế bào khối u. Các tế bào khối u cần chất này để làm cho protein tạo ra các tế bào ung thư khác. Mô bình thường tổng hợp L-asparagine với một lượng đủ cho quá trình tổng hợp protein.
Hầu hết các mô khối u cần tổng hợp asparaginase từ bên ngoài để sinh trưởng. Asparaginase có tác dụng làm ngăn cản sự tổng hợp protein của khối u. Nó gây chết tế bào bằng cách hoạt hóa quá trình gây chết tế bào theo chương trình. Do L-asparagine là chất nền thiết yếu cho sự tăng trưởng của tế bào khối u nên có thể giảm bằng cách tiêm asparaginase làm cạn nguồn dinh dưỡng cho phát triển khối u.
Phạm Nguyệt Hằng 4 Lớp: CNSH-1103 Hình 1. Cơ chế tác dụng của asparaginase trong quá trình phát triển của các mô khối u 1. Ứng dụng trong thực phẩm Asparaginase có thể được sử dụng như một chất phụ gia trong chế biến thực phẩm nhằm làm giảm sự hình thành acrylamide. Acrylamide là một hợp chất hóa học, hình thành trong các loại thực phẩm giàu tinh bột khi được nướng hoặc chiên.
Trong thời gian làm nóng asparagine và đường khử trong các loại thực phẩm giàu tinh bột được chuyển đổi thành acrylamide trong một quá trình được gọi là phản ứng Maillard. Phản ứng cho các loại thực phẩm nướng hoặc chiên màu nâu, vỏ và hương vị nướng. Sử dụng asparaginase trước khi nướng hay chiên thực phẩm làm chuyển đổi asparagine thành acid aspartic và amoni. Kết quả là, asparagine không thể tham gia vào phản ứng Maillard và do đó làm giảm sự hình thành acrylamide.
Hãng Novozymes (Đan Mạch) và DSM đã sản xuất và thương mại hóa thành công asparaginase tái tổ hợp từ các chủng nấm sợi biến đổi gen tương ứng là A. niger để ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm nhằm giảm sự hình thành acrylamide trong thực phẩm. Tên thương mại của sản phẩm asparaginase từ A. oryzae là Acrylaway®L (dạng lỏng) và Acrylaway®3500 BG (dạng bột), còn asparaginase từ A.
niger là PreventASeTML (dạng lỏng) và PreventASeTMW, PreventASeTMM (dạng bột). Quy trình sản xuất thực hiện theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMP). Chủng sản xuất và chế phẩm enzym thương mại đều được FDA chứng nhận an toàn theo GRAS (Generally Recognized as Safe). Giới thiệu về acrylamide 1.
Khả năng gây bệnh Acrylamide là một hợp chất hóa học có công thức hóa học là C3H5NO. Acrylamide là thành phần cấu tạo nên các hợp chất polyacrylamide và acrylamide Phạm Nguyệt Hằng 5 Lớp: CNSH-1103 copolyme được sử dụng trong các ngành công nghiệp như giấy, nhuộm, chất dẻo, xử lý nước uống và nước thải. Thí nghiệm trên động vật (đối với chuột) cho thấy acrylamide gây ra bệnh ung thư khi sử dụng ở liều lượng cao. Sự lo ngại về acrylamide trong thực phẩm dấy lên từ tháng 4 năm 2002, khi cơ quan quản lý thực phẩm quốc gia Thụy Điển tìm thấy độc tố này trong một số loại thực phẩm chứa nhiều tinh bột khoai tây khi chế biến ở nhiệt độ cao.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Na Uy, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ sau đó đã làm rõ thêm vấn đề: Không chỉ có tinh bột khoai tây mà các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật giàu carbohydrate, ít protein khác khi được chế biến bằng các phương pháp đòi hỏi phải có nhiệt độ cao (>120oC) như rán, quay, nướng đều có xuất hiện acrylamide. Trong khi đó hiện tượng này không thấy xảy ra ở các thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, cá, sữa,.Và các thực phẩm có nguồn gốc thực vật nhưng được chế biến ở nhiệt độ thấp. Các nghiên cứu cũng cho thấy, khi tiêu thụ acrylamide với hàm lượng cao trong thời gian ngắn sẽ gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Trong khi đó cho tiêu thụ acrylamide trong thời gian dài với liều lượng thấp gây ảnh hưởng lên thần kinh ngoại biên là chủ yếu.
Triệu chứng như ngủ lơ mơ, ảo giác, lẫn lộn, cảm giác không bình thường, không phối hợp được các động tác. Các chuyên gia y tế cũng cho rằng việc tiếp xúc nhiều với acrylamide sẽ khiển cơ thể đổ mồ hôi, đi tiểu không kiểm soát, buồn nôn, đau mỏi cơ,. Acrylamide là hợp chất độc hại gen với tiềm năng ảnh hưởng lên tế bào mầm từ đó dẫn đến các biến đổi về di truyền. Cơ chế hình thành acrylamide trong thực phẩm Acrylamide là phản ứng trung gian của quá trình chế biến thực phẩm ở nhiệt độ cao (>120oC).
Nó là sản phẩm phụ của phản ứng Maillard. Ở nhiệt độ cao, aspargine (một acid amin trong thực phẩm) tác dụng với đường khử tạo ra acrylamide. Phản ứng tổng hợp Phản ứng tổng hợp Phạm Nguyệt Hằng 6 Lớp: CNSH-1103 acrylamide acrylamide OH NH2 H NH2 NH2 C=O C=O C=O X X CH CH CH CH2 CH2 CH2 Acrylic acid Acrylamide Acrolein Cacbonyl của đường khử NH2 Phản ứng hình thành acrylamide C=O ở nhiệt độ cao CH2 NH2 CH COOH Asparagine Hình 1. Cơ chế phản ứng hình thành acrylamide 1.