Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát ổn định hệ thống điện Nghiên cứu ổn định hệ thống điện là một đề tài lớn trong các nghiên cứu về hệ thống. Đề tài nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến việc sản xuất điện, truyền tải điện từ nguồn phát đến nơi tiêu thụ theo yêu cầu của hộ phụ tải. Công suất tiêu thụ thường thay đổi do sự thay đổi tải hoặc do sự cố xảy ra trên đường dây truyền tải và đường dây phân phối.
Vì lý do này, các giải pháp về ổn định hệ thống điện đóng vai trò vô cùng quan trọng và được sử dụng để xác định khả năng của hệ thống trở lại trạng thái ổn định trong thời gian tối thiểu có thể sau khi trải qua bất kỳ sự thay đổi hoặc sự cố nào trong hệ thống điện. Việc ổn định hệ thống điện luôn là mong muốn của nhà điều độ cũng như là khách hàng. Quá trình xây dựng và phát triển hệ thống được thực hiện rất kỹ lưỡng và chặt chẽ với quy định rõ ràng theo các cơ quan chuyên ngành cũng như do nhà nước quy định. Tuy nhiên, do các yếu tố khách quan mà nhiễu loạn trong hệ thống là không tránh được như mất đường dây, mất máy phát, tải tăng đột ngột.
Khi ấy cần có các biện pháp khẩn cấp nhằm đưa hệ thống trở về trạng thái ổn định theo các quy định các giới hạn được đề ra, mà trong số đó sa thải phụ tải được coi như một biện pháp cuối cùng có tác động mạnh và nhanh nhằm phục hồi trạng thái ổn định của hệ thống. Các nhiễu loạn của hệ thống điện, thường là do sự cố các máy phát điện, các đường dây truyền tải hoặc thay đổi tải đột ngột. Tại thời điểm xảy ra nhiễu loạn có thể gây mất ổn định hệ thống. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải nghiên cứu và theo dõi hệ thống điện để ngăn chặn hệ thống trở nên mất ổn định.
Cụ thể, tần số bị ảnh hưởng bởi sự chênh lệch giữa công suất phát và nhu cầu phụ tải, làm giảm khả năng phát điện của hệ thống. Ví dụ, do sự cố mất máy phát điện, khả năng phát điện giảm trong khi nhu cầu phụ tải không đổi hoặc gia tăng. Nếu các máy phát điện khác trong hệ thống không thể cung cấp đủ công suất cần thiết, thì tần số hệ thống bắt đầu giảm. HVTH: Nguyễn Công Anh Vũ 1 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.Quyền Huy Ánh Để phục hồi lại tần số trong giới hạn định mức, một chương trình sa thải tải cần phải được áp dụng cho hệ thống.
Khái quát về vận hành khi sự cố trong hệ thống điện tỉnh An Giang [1, 2] Hệ thống điện (HTĐ) là một hệ thống vô cùng phức tạp, các điểm kết nối có thể liên kết với nhiều đường dây và máy phát. Việc đề ra phương án giải quyết sự cố do các chuyên gia trong ngành đề xuất và được nhà nước ra quyết định thực hiện. Mỗi địa phương dựa vào các quyết định, các quy định trên đề ra phương án giải quyết khi có sự cố. Hiện nay, tại Điện lực An Giang khi hệ thống điện bị sự cố gây mất liên kết giữa các nhà máy điện, trạm điện dẫn đến mất điện một phần hay toàn bộ hệ thống điện miền (rã lưới), khi đó hệ thồng điện miền Nam có các nhà máy điện (Trị An, Đa Nhim, Hàm Thuận, …) có khả năng khởi động đen và khôi phục hệ thống điện miền Nam.
Kỹ sư điều hành A2 (KSĐH A2) sẽ chỉ huy điều hành khôi phục các đường dây, trạm điện 220kV có trang bị bộ hoà đồng bộ; trong đó có trạm 220 kV Châu Đốc 2 và Rạch Giá 2 (cấp đện cho các trạm 110kV khu vực tỉnh An Giang). Điều độ viên (ĐĐV) nhanh chóng hồi phục hệ thống điện phân phối theo mức phân bố công suất của KSĐH A2. Việc khôi phục cấp điện căn cứ theo danh sách thứ tự ưu tiên các phát tuyến đã được UBND tỉnh phê duyệt. Cụ thể là khi mất điện toàn bộ HTĐ phân phối, sau khi đã cập nhật tình hình mất điện cũng như thông báo tình hình cho các cấp.
Thì điều hành viên trạm (ĐHV), trực ban vận hành (TBVH) thực hiện tách lưới điện phân phối để sẵn sàng cấp điện cho các phụ tải ưu tiên, trung tâm huyện/thị/thành như sau: ĐHV các trạm 110kV mở tất cả máy cắt các phát tuyến 22kV, 35kV tại các trạm 110kV; ĐHV các trạm 35kV mở tất cả máy cắt các phát tuyến 22kV các trạm 35kV Tân Châu, An Phú, Tịnh Biên. Trực Ban Vận Hành (TBVH) các Điện lực thao tác cắt thiết bị phân đoạn như sau: ✓ TBVH Chợ Mới: cắt MC trụ 6/92 tuyến 476CM (NC Thép) ✓ TBVH Châu Phú: cắt LBS trụ 7/150 tuyến 471CD (cấp 477CĐ) ✓ TBVH Thoại Sơn: cắt nhánh rẽ 1/165. HVTH: Nguyễn Công Anh Vũ 2 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.Quyền Huy Ánh Sau đó, tiến hành khôi phục phụ tải khi nhận sự phân bổ của A2: Trường hợp A2 cho phép nhận điện đến 30MW (⁓15% Ptải) Bảng 1.1 Bảng đóng máy cắt tải cho phép nhận điện đến 30MW. STT Đóng máy cắt P (MW) P(MW) cộng dồn Ghi chú 1 476 Long Xuyên 4.7 Cấp trạm 35kV 7 474 Tân Châu 2.5 Trường hợp A2 cho phép nhận điện đến 60MW (⁓30% Ptải): thực hiện đóng các MC như Bảng 1.1 và thực hiện đóng các MC theo Bảng 1.
Bảng đóng máy cắt tải cho phép nhận điện đến 60MW. STT Đóng máy cắt P (MW) P(MW) cộng dồn Ghi chú 1 474 Tịnh Biên 3.7 Thoại Sơn 5 477 Phú Tân 3.2 An Phú Lúc này trung tâm các huyện/thị/thành có điện; khi KSĐH A2 cho phép khai thác tải tiếp tục, ĐĐV chỉ huy thao tác đóng lần lượt các MC như sau: ✓ 473, 475, 478, 480 Long Xuyên. ✓ 471, 473, 475, 477, 479 Tri Tôn ✓ 472, 474, 478, 480, 482 Chợ Mới ✓ 472, 473, 474 An Phú. ✓ Đóng các phân đoạn và nhánh rẽ còn lại.
HVTH: Nguyễn Công Anh Vũ 3 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.Quyền Huy Ánh Ngoài ra, để nâng cao độ tin cậy, Điện lực An Giang cũng sử dụng các relay sa thải phụ tải tần số thấp R81. Danh sách các phát tuyến cài đặt relay R81. Cắt tải theo mức tần số STT Trạm Phát Tuyến Mức tần số Thời gian trễ Ghi chú (Hz) (s) 471 48.0 HVTH: Nguyễn Công Anh Vũ 4 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.Quyền Huy Ánh 472 49. Các nghiên cứu trong và ngoài nước Giải pháp sa thải phụ tải được coi như là một giải pháp cuối cùng trong các trường hợp khẩn cấp trên thế giới cũng như trong nước ta hiện nay nhằm đưa giá trị tần số về giới hạn cho phép.
Hiện nay, đang có các công trình nghiên cứu giải pháp sa thải phụ tải với nhiều ý tưởng khác nhau. Các nghiên cứu ở trong nước 1. Luận văn ThS Nguyễn Văn Hải, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu phương pháp sa thải phụ tải nhằm duy trì ổn định động của hệ thống điện khi xuất hiện dao động lớn trên cơ sở kết hợp giải thuật K-means, mạng nơ-ron và giải thuật AHP. Luận văn ThS Bùi Nguyễn Xuân Vũ, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu đề xuất phương pháp sa thải phụ tải trên cơ sở phối hợp mạng nơ-ron hồi quy và lý thuyết về khoảng cách điện theo góc pha nhằm duy trì hệ thống điện ổn định khi có sự cố mất một phát xảy ra trong hệ thống điện.
Luận văn ThS Nguyễn Viết Toại, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, trình bày quy trình xây dựng hệ thống nhận dạng để đánh giá trạng thái không ổn định của hệ thống điện và phân lớp chiến lược sa thải phụ tải trên cơ sở 2 mạng nơron. Mô hình đề xuất sử dụng giải thuật Kmeans kết hợp với giải thuật AHP để xây dựng nhóm chiến lược sa thải phụ tải có xét đến tầm quan trọng của phụ tải nhằm làm giảm thiệt hại về mặt kinh tế khi sa thải so với các phương pháp truyền thống trước đây. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1. Kazem Mehrabi, Saeed Afsharnia[13], đã nghiên cứu đề xuất một chương trình UFLS thích ứng dựa trên các hệ thống đo lường diện rộng (WAMS).
Mâu thuẫn với phương pháp hiện có, phương pháp đề xuất được đặc trưng với một cách thích HVTH: Nguyễn Công Anh Vũ 5 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.Quyền Huy Ánh ứng. Nói cách khác, giá trị tần số rơle STPT được điều chỉnh thích ứng từng nhiễu loạn. Hơn nữa, các hệ thống đo lường diện rộng được đề nghị để lựa chọn lượng yêu cầu STPT. Các nghiên cứu về sản lượng lớn được thực hiện trên một nghiên cứu điển hình thực tế có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả của cách tiếp cận được đề xuất.
Muhammad Faizan Tahir và các thành viên trong nhóm nghiên cứu [14], nghiên cứu thuật toán áp dụng cho việc sa thải phụ tải tối ưu để duy trì trạng thái ổn định của hệ thống điện. Kết quả thu được bởi các phương pháp truyền thống tốn nhiều thời gian hơn khi so sánh với mạng trí tuệ nhân tạo (ANN). Sa thải tải tối ưu sử dụng quần thể mạng trí tuệ nhân tạo là kết quả của nghiên cứu này. Trong bài báo này, thuật toán Bootstrap Aggregating (Bagging) với Disjoint Partition đã được sử dụng để tạo một quần thể ANN bởi vì sự hội tụ nhanh và phương sai thấp.
Moazzami [15], áp dụng các phương pháp thông minh để giải quyết các vấn đề của sa thải phụ tải truyền thống. Phương pháp này được thực hiện bằng phương pháp sa thải phụ tải tập trung. Một sa thải phụ tải dưới tần số thích nghi dựa trên độ lớn ước lượng nhiễu loạn cho việc bảo vệ hệ thống điện từ mất ổn định động và sụp đổ tần số được đề xuất. Hai thuật toán sa thải phụ tải dưới tần số thích nghi tập trung để đồng thời bảo vệ hệ thống điện chống lại sự mất ổn định tần số cũng như mất ổn định điện áp.
Saffarian [3], đã đề xuất một phương pháp sa thải tải mới để tăng tính bảo mật của hệ thống điện trong các nhiễu loạn lớn. Phương pháp được đề xuất sử dụng tín hiệu điện áp và tần số đo tại chỗ và không cần bất kỳ liên kết truyền thông nào. Hiệu quả của sơ đồ truyền thống và phương pháp sa thải được đề xuất sử dụng các tiêu chuẩn cắt khác nhau đã được mô phỏng trong hai hệ thống thử nghiệm: một mạng lớn thực sự và một hệ thống kiểm tra tiêu chuẩn.