Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và cơ sở lý luận của giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu đề tài Chương 3: Hoạt động tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Tây. Chương 4: Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Tây. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢM THIỂU RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nguyễn Thị Vân Anh (2014), “Giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng thông qua áp dụng Basel II - nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”. Tạp chí Thị trƣờng tài chính tiền tệ.
Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng Singapore. Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore (MAS) cho biết sẽ đặt ra tỷ lệ vốn áp dụng với các NHTM Singapore lớn hơn so với mức tối thiểu mà Ủy ban Basel II để tạo ra uy tín cho vị thế trung tâm tài chính. Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore cho rằng: “Mỗi ngân hàng tại quốc gia này đều mang tầm quan trọng đối với hệ thống. Tỷ lệ vốn cao hơn sẽ giúp các ngân hàng thƣơng mại này hoạt động vững vàng hơn ngay cả trong điều kiện không thuận lợi”.
Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore đã ra thông cáo sửa đổi Thông tƣ số 637 của mình về yêu cầu vốn rủi ro đối với các ngân hàng để hƣớng tới thực hiện Basel III. Trƣơng Quốc Cƣờng , (2012 )“Đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng Việt Nam - Nhìn từ tiêu chuẩn Basel “, Tạp chí Ngân hàng. Tác giả đã đánh giá một số khía cạnh của các quy định về an toàn hoạt động của các ngân hàng Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở này, tác giả cũng đề xuất các khuyến nghị nhằm đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng tại nƣớc ta khi cơ sở áp dụng Basel II & III.
Trƣơng Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến rủiro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh thành phố Cần Thơ. Tạp chí Ngân hàng số 5 tháng 3/2011. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu đƣợc từ 438 hồ sơ vay của khách hàng tại BIDV Cần Thơ.
Các tác giả đã sử dụng mô hình xác suất probit để phân tích. Kết quả cho thấy các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của BIDV Cần Thơ. Các nhân tố này bao gồm khả năng tài chính của khách hàng, sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, đa dạng hóa HĐKD của khách hàng. Lê Thị Hiệp Thƣơng, “Các biện pháp của Ngân hàng thương mại nhằm hạn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chế những rủi ro trong cho vay đối với các doanh nghiệp”, Đại học quốc gia Hà Nội, 2010.
Bài nghiên cứu đã đƣa ra định nghĩa về rủi ro là những kết quả hoạt động ngoài mong đợi của con ngƣời. Tác giả cũng nhận định rõ sự tất yếu của rủi ro, đặc biệt là trong hoạt động cho vay. Rủi ro trong cho vay cũng đƣợc phân tích các biểu hiện nhƣ biến động lãi suất, hay tỷ giá đồng tiền cho vay. Trong đó thì RRTD là rủi ro cơ bản trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
Tác giả cũng đã phân tích thực trạng ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM và đƣa ra một số biện pháp tích cực nhằm khắc phục các hạn chế này. Trong số đó thì rủi ro tín dụng là nội dung đƣợc tập trung nghiên cứu. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ tập trung vào các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM chứ chƣa đi sâu phân tích công tác quản trị rủi ro tín dụng. Nguyễn Hữu Thủy, “Những giải pháp chủ yếu hạn chế RRTD NHTM nước ta hiện nay” Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 2012.Theo tác giả thì những hạn chế của NHTM nƣớc ta hiện nay nhƣ: Công nghệ lạc hậu, sản phẩm đơn điệu, đội ngũ cán bộ ngân hàng thiếu kiến thức, kinh nghiệm, việc quản lý không theo kịp mở rộng quy mô tín dụng; quy chế hoạt động chƣa chặt chẽ; thông tin tín dụng chƣa đầy đủ.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp tích cực nhằm hạn chế RRTD nhƣ: Đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng đào tạo cán bộ, công tác phát triển mạng lƣới; công tác điều hành, kiểm soát….Mặc dù vậy, luận án đã nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2008 – 2014. Tới nay hoạt động tín dụng, công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay của các NHTM đã có nhiều thay đổi. Phạm vi nghiên cứu của luận án cũng tƣơng đối rộng, đối với toàn hệ thống các NHTM Việt Nam. Lê Kim Long và Nguyễn Hoàng Thức (2013), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV chi nhánh tỉnh Hậu Giang”, Bài nghiên cứu khoa học.
Các tác giả đã phát 50 phiếu điều tra cho 50 cán bộ tín dụng hiện đang làm việc tại bộ phận tín dụng của MB Hậu Giang. Kết quả đã đƣa ra 17 nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ 03 nhóm nguyên nhân chính: (1) sự thay đổi môi trƣờng kinh doanh; (2) những nguyên nhân từ phía khách hàng; (3) nguyên nhân từ phía ngân hàng và từ đó đề ra những giải pháp khắc phục những nguyên nhân trên. Tài liệu này chủ yếu tập trung khảo sát về những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, trên cơ sở này đƣa ra những giải pháp khắc phục, hạn chế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những nguyên nhân này. Nhìn chung, tài liệu vẫn chƣa cung cấp một cái nhìn đầy đủ về công tác quản trị rủi ro tín dung tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - MB chi nhánh tỉnh Hậu Giang.
Nguyễn Văn Thọ – ThS. Nguyễn Ngọc Linh, 2015 “Thách thức đối với ngân hàng Việt Nam khi triển khai BASEL II”. Các tác giả đã tìm hiểu những nội dung cơ bản về BASEL II và thực trạng áp dụng BASEL II tại các NHTM Việt Nam hiện nay trong công tác quản trị rủi ro tín dụng thông qua một số NH điển hình nhƣ: BIDV, MB, Techcombank. Việc triển khai Hiệp ƣớc Basel II không chỉ tác động đến chính hệ thống ngân hàng của quốc gia áp dụng mà còn tác động đến nền kinh tế của những quốc gia đó.
Các tác giả cũng phân tích những tác động này dối với hoạt động quản trị RRTD của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng chỉ tập trung đƣa ra những vấn đề khó khăn khi áp dụng BASEL II trong quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM chứ chƣa cung cấp một cái nhìn đầy đủ, có hệ thống về công tác quản trị RRTD tại NHTM hiện nay. Trần Huy Hoàng, Hạn chế nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam, Tạp chí Phát triển kinh tế, tháng 12 năm 2004. Tác giảcũng đã đề cập đến một cách tổng quát nhất về nguy cơ rủi ro hoạt động tín dụng của NHTM giai đoạn 6 tháng đầu năm 2015, chƣa đề cập sâu đến hoạt động quản trị RRTD.
Hoàng Văn Thành, “Một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Ninh Bình” luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Tài chính Marketing, 2013. Tác giả đã nghiên cứu những lý luận cơ bản về RRTD và quản trị RRTD của NHTM. Trên cơ sở này đã làm rõ bản chất, các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng và quản trị RRTD. Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, quản trị RRTD Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - CN Đống Đa.
Trên cơ sở những lý luận về RRTD, quản trị RRTD và kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại một số NHTM các quốc gia khác, tác giả đã đề xuất đƣợc một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa. Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 2010 – 2012. Do vậy, công tác quản trị rủi ro của Chi nhánh hiện nay đã có nhiều thay đổi, cải thiện hơn so với giai đoạn trƣớc, thực trạng và giải pháp dƣờng nhƣ không còn phù hợp với giai đoạn tiếp theo. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đỗ Đoan Trang (2019), Về quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2019.Quản trị rủi ro là cách thức tốt nhất mà tất cả các tổ chức tín dụng cần thực hiện để không bị mất vốn đầu tƣ.
Bài viết phân tích những rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại và đƣa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại. Phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề khó khăn, phức tạp. Rủi ro tín dụng thƣờng khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng. Trong thời gian qua, vấn đề rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đã trở nên cấp thiết khi có các con số về nợ xấu đƣợc công bố.
Để giảm thiểu RRTD nợ xấu, thời gian tới, các ngân hàng cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau: Một là, tháng 12/2017, Ủy ban Basel công bố văn bản “Basel III: Hoàn thiện các cải cách sau khủng hoảng”, với việc cải cách một số tiêu chuẩn để thực hiện tính vốn đối với các loại rủi ro nhƣ RRTD, rủi ro điều chỉnh định giá tín dụng hay rủi ro hoạt động. Hai là, hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm RRTD, trong đó, các chỉ số cảnh báo sớm rủi ro cần bao phủ đƣợc các nguyên nhân gây ra vỡ nợ chủ yếu cho khách hàng doanh nghiệp. Ba là, tăng cƣờng quản lý và giám sát trƣớc và sau giải ngân, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng….