Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 1 Phụ lục 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.1 Một số khái niệm 2.1 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu của Coyle (2000) định nghĩa rằng, RRTD là khả năng người đi vay không thể chi trả đầy đủ các khoản nợ đúng hạn. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối diện khi người đi vay không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình. Theo Jorion (2009), RRTD là những tổn thất có thể phát sinh do bên đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như trong hợp đồng được ký kết giữa các bên. Cách đo lường RRTD được tính dựa trên chi phí bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản.
Ủy ban Basel (2001) cho rằng, RRTD là khả năng không thể thu hồi được các khoản nợ một phần hoặc toàn bộ, nguyên nhân là do rủi ro hoặc các vấn đề của khoản nợ gây ra. Còn theo định nghĩa Ủy ban Basel (1999) thì RRTD là khả năng người đi vay không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Đối với Heefferman (1996) nhận xét rằng, RRTD là rủi ro mà một tài sản hoặc một khoản vay không thể thu hồi được do người đi vay không trả nợ đúng hạn, hoặc do sự chậm trễ trong việc trả nợ. Chính điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Theo Khoản 1 Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, RRTD là những rủi ro mà ngân hàng phải đối diện nếu như người đi vay không thực hiện được các nghĩa vụ của mình, trả nợ không đúng hạn, không trả được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 một phần hoặc toàn bộ dư nợ gốc và lãi vay. Những rủi ro này sẽ gây ra tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013, RRTD được phân thành 5 nhóm nợ như trong Bảng 2-1: Bảng 2-1: Phân loại nhóm nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN - Nợ trong hạn được đánh giá là có khả năng thu hồi Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) đủ cả gốc và lãi; - Nợ quá hạn dưới 10 ngày - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) - Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu - Nợ gia hạn nợ lần đầu; chuẩn) - Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai; - Nợ theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được. - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Nhóm 5 (Nợ có khả năng - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 mất vốn) ngày trở lên theo thời hạn đã được cơ cấu lại; - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai quá hạn theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai; - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá hạn thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
(Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN) Cũng theo quy định của NHNN, giá trị trích lập dự phòng RRTD là “số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Hiện nay, dự phòng RRTD bao gồm: Dự phòng RRTD cụ thể (Khoản 2 Điều 12 Mục 2 Thông tư 02/2013/TT- NHNN): Dự phòng được trích lập cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng nhóm nợ cụ thể như, nhóm 1 (0%), nhóm 2 (5%), nhóm 3 (20%), nhóm 4 (50%), nhóm 5 (100%). Dự phòng RRTD chung (Khoản 1 Điều 13 Mục 2 Thông tư 02/2013/TT- NHNN): Trích lập cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng. Số tiền dự phòng chung là 0.75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.3 Đo lường rủi ro tín dụng RRTD có thể được đo lường thông qua các chỉ tiêu như: Tỷ lệ dư nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng (Said and Tumin, 2011); Tỷ lệ dự phòng RRTD với tổng tài sản ngân hàng (Laeven and Majnoni, 2002); Tỷ lệ DPRR năm t so với dư nợ cho vay năm t-1 (Foos và cộng sự, 2010; Hess và cộng sự, 2009).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ (Tehulu and Olana, 2014).2 Vốn chủ sở hữu ngân hàng 2.1 Khái niệm vốn chủ sở hữu ngân hàng VCSH gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung. Vốn tự có cơ bản là VĐL do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng. Vốn tự có bổ sung được hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, có thể thông qua các quỹ như quỹ dự trữ bổ sung VĐL, quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác. Nguồn của vốn tự có bổ sung gồm nguồn nội bộ (là phần lợi nhuận giữ lại của ngân hàng) và nguồn bên ngoài (vốn có được từ việc phát hành thêm cổ phiếu).
Hay nói một cách khác theo Hiệp ước Basel II, VCSH của ngân hàng gồm hai phần: Vốn tự có cấp 1: VĐL, thặng dư vốn cổ phần, quỹ dự trữ bổ sung VĐL, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư và lợi nhuận giữ lại; Vốn tự có cấp 2: Các khoản gia tăng như tài sản cố định, khoản đầu tư, các công cụ nợ và dự phòng chung được tính theo tỷ lệ quy định trừ đi các khoản giảm trừ.2 Vai trò của vốn chủ sở hữu ngân hàng VCSH của ngân hàng có chức năng như là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản, gia tăng niềm tin ở những người gửi tiền vào ngân hàng, khả năng ngân hàng chịu đựng được trước những rủi ro (Ayaydin and Karakaya, 2014). Ngoài ra, VCSH còn phản ánh mức chi phí tài trợ vốn tối thiểu mà ngân hàng đang sử dụng (Karabulut, 2003). VCSH có thể là nguồn tài trợ cho các dự án của ngân hàng, giảm thiểu rủi ro phá sản. Mối quan hệ giữa vốn và rủi ro của ngân hàng là khá phức tạp.
Một vài nghiên cứu cho rằng, vốn làm tăng rủi ro cho ngân hàng, tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại, vốn giúp giảm rủi ro cho ngân hàng (Moussa, 2015). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chính vì tầm quan trọng của nguồn VCSH đối với hoạt động của ngân hàng hiện nay, phân tích mối quan hệ giữa VCSH và RRTD là một điều rất quan trọng đối với ngân hàng. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tín dụng vừa qua ở Mỹ càng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố tác động đến rủi ro ngân hàng trong môi trường các ngân hàng có mức vốn ít (Festic et al. Năm 1988, Ủy ban Basel giới thiệu Hiệp ước Basel I xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro và tăng cường hệ thống tài chính.
Đến tháng 06/2004, Hiệp ước Basel II được ban hành để phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng. Basel II giới thiệu khái niệm “ba trụ cột” gồm: yêu cầu vốn tối thiểu, rà soát giám sát, nguyên tắc thị trường. Đối với trụ cột 1, vốn pháp định được tính toán cho ba thành phần rủi ro mà ngân hàng đối mặt: rủi ro thị trường, RRTD và rủi ro vận hành. Tỷ lệ vốn tối thiểu được yêu cầu là 8%.
Tỷ lệ này chính là mối quan hệ giữa vốn của ngân hàng và tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro (giá trị tài sản nhân với trọng số đại diện cho RRTD liên quan đến tài sản này). Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN của NHNN VN thì “Các TCTD phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản Có rủi ro của TCTD (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)”2.1 Lý thuyết đại diện Đối với yếu tố nguồn VCSH, dựa trên cách tính VCSH trên tổng tài sản thì yếu tố này tác động cùng chiều đến RRTD (Ayaydin and Karakaya, 2014). Điều này có ý nghĩa là khi RRTD tăng, các ngân hàng sẽ tăng VCSH lên một cách tương đồng hợp lý. Có nhiều nghiên cứu cho kết quả về mối quan hệ đồng biến giữa hai yếu tố nguồn VCSH và RRTD, như nghiên cứu của Shrieves và Dahl (1992), Iannotta và cộng sự (2007).
2 Điều 4 Mục 1 Thông tư 13/2010/TT-NHNN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Lee và Hsieh (2013) nghiên cứu về dữ liệu của 2,276 ngân hàng ở 42 quốc gia Châu Á, kết quả nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và RRTD, tương tự kết quả của Altunbas và cộng sự (2007). Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại. Nghiên cứu của Roy (2003) cũng phân tích tác động của nguồn vốn ngân hàng đến RRTD dựa trên dữ liệu của các ngân hàng ở 7 quốc gia châu Âu. Mối quan hệ này là ngược chiều giữa vốn và RRTD trong giai đoạn 1998-2003, cùng kết quả với nghiên cứu Mohamed Moussa (2015).
VCSH ngân hàng và RRTD còn có mối quan hệ theo đồ thị chữ U, đây là kết quả nghiên cứu của Haq và Heaney (2012) về dữ liệu bảng của 117 ngân hàng ở 15 quốc gia Châu Âu từ năm 1996 đến 2011. Ban đầu, VCSH ngân hàng tăng, RRTD sẽ giảm, nhưng khi vốn tăng đến một mức nhất định, RRTD sẽ tăng theo.