CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYET ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRUONG HOP DONG PHAM 1. Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hop đồng phạm Khi nói đến hình phat Mác viết: “.hình phat chẳng qua chỉ là thi đoạn tự vệ của xã hội chống lại sự vi phạm những điều kiện ton tại của nó, dù cho những điều kiện ấy có thé nào di nữa” [4, tr.673], Điều 30 BLHS năm 2015 cũng quy định rằng: “Hinh phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà Nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Van đề quyết định hình phat được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ Quốc triều Hình Luật năm 1483. Mặc dù vậy, những quy định này chỉ mang tính sơ khai, chưa cụ thể hóa được các căn cứ chung cho việc quyết định hình phạt.
Từ sau năm 1945 đến trước BLHS 1985, vấn đề quyết định hình phạt cũng được ghi nhận trong một số Bản tổng kết của ngành Tòa án, ngành Kiểm sát về những vận dụng trong việc áp dụng hình phạt. Song trong giai đoạn này vẫn không có một văn bản nào ghi nhận day đủ, chính thức về nội dung quyết định hình phạt. Đến năm 1985, ké từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất BLHS Việt Nam và hoàn thiện cho đến nay, chế định này được quy định tương đối hoàn chỉnh và được xem là một chế định quan trọng trong Luật hình sự Việt Namở thời điểm hiện tại. Có thê nói, hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt có vai trò vô cùng quan trọng trong giai đoạn xét xử sơ thầm vụ án hình sự.
Hoạt động định tội danh được xem là tiền đề, là cơ sở cho việc quyết định hình phạt. Tuy hai hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng mỗi hoạt động lại có sự độc lập riêng biệt về bản chất. Trước khi Tòa án (cụ thê là Hội đồng xét 10 xử) đưa ra quyết định cuối cùng về hình phạt mà người phạm tội buộc phải thi hành thì việc cần làm là xác định đúng TNHS và tinh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà người phạm tội đã gây. Vì vậy, quyết định hình phạt là một hoạt động quan trọng của Tòa án trong quá trình xét xử vụ án hình sự.
Hoạt động này của Tòa án ngoài việc đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ cần đảm bảo tính công bằng và nhân đạo. Có như vậy mới đủ sức thuyết phục và đạt được mục đích của hình phạt trên thực tế. Hiện nay cũng đã tồn tại nhiều khái niệm về “Quyết định hình phạt” trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, giáo trình của những cơ sở đào tạo và giảng dạy về luật. Tại Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội cho răng: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thé (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định dé áp dụng đối với người phạm tội [41, tr.
Hoặc Giáo trình Luật hình sự đại học Luật Hà Nội năm 2019 có đưa ra định nghĩa: Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định dé áp dụng đối với chủ thể chịu TNHS [40, tr. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm 2020 đề cập như sau: Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án trong việc lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể (bao gom hinh phat chinh va hình phat bổ sung) dé áp dụng đối với người phạm tội va pháp nhân thương mại phạm tội [39, tr. 11 Theo tác giả Dinh Văn Qué thì: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân thủ quy định của Bộ luật Hình sự [32, tr.
Lê Cảm cho rằng: Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thê hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thé được quy định trong điều luật theo một thủ tục nhất định dé áp dụng đối với người phạm tội thê hiện trong bản án buộc tội [6, tr. Trong khi đó, PGS. Lê Văn Dé thì cho rang: QDHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thé trong phạm vi luật định dé áp dụng đối với người phạm tội cụ thể [13, tr. Mặc dù cách diễn giải khác nhau nhưng về cơ bản các khái niệm trên vẫn có sự đồng nhất về mặt bản chất đó là hoạt động quyết định hình phạt được thực hiện bởi chủ thể là Toà án trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với chủ thể phạm tội.
Mặc dù các định nghĩa trên không nêu căn cứ quyết định hình phạt, song các quan điểm khoa học và quy định của các Bộ luật hình sự cơ bản đều thống nhất về các căn cứ quyết định hình phạt, bao gồm: i; Quy định của BLHS, ii; Tính chat, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; 11; Nhân thân người phạm tội; 1v; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối với hình phạt tiền, khi quyết định hình phạt thì Toà án còn phải căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ngoài việc quy định cá nhân phạm tội thì lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Do đó, quyết định hình phạt được cho cả cá nhân và pháp nhân thương mại.
12 Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa định tội danh, quyết định hình phạt và các khái niệm quyết định hình phạt đã nêu, tác giả cho rằng: Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án căn cứ vào các quy định của BLHS, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để lựa chọn loại và mức hình phat cụ thé dé áp dụng đổi với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm lội. Quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói riêng đều phải dựa vào những căn cứ chung về quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Bên cạnh đó, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm có những điểm khác biệt riêng so với trường hợp phạm tội thông thường. Điều này xuất phát từ những đặc trưng của đồng phạm mà không tôn tại ở những trường hợp phạm tội đơn lẻ.
Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bô sung năm 2017) quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người dong phạm nào, thi chỉ áp dụng đối với người dé” [29] Việc đưa ra khái niệm về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là dựa vào khái niệm quyết định hình phạt chung cộng với việc nhận định sự khác biệt của đồng phạm so với trường hợp phạm tội thông thường từ đó đưa ra một khái niệm phù hợp nhưng vẫn đảm bảo được nội dung của vẫn đề quyết định hình phạt. Quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 chỉ ra ba căn cứ cần tập trung, nhắn mạnh khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, đó là: - Tính chất của đồng phạm; 13 - Tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm; - Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó. Dựa trên căn cứ về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm ở Điều 58, có thể thấy ba căn cứ trên thực chất cũng nằm trong các căn cứ quyết định hình phạt nói chung (tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS).
Về khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, hiện nay chưa có nhiều định nghĩa pháp lý nhưng đã có một số tác giả đưa ra định nghĩa: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án, trên cơ sở xác định tội danh, căn cứ tính chất đồng phạm, tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng người đồng phạm, từ đó lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt phù hợp Hay: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được Tòa án thực hiện sau khi định tội danh đồng phạm, căn cứ tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm, nhân thân người phạm tội (việc chấp hành pháp luật đối với pháp nhân thương mai), dé quyét định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp áp dụng đối với từng người đồng phạm va thé hiện trong bản án kết tội đối với họ [24, tr. Các định nghĩa này về cơ bản vẫn đảm bảo được một số nội dung của quyết định hình phạt trong đồng phạm, nhưng chưa thé hiện day đủ các căn cứ dé áp dụng. Hơn nữa, quan điểm về quyết định hình phạt bao gồm cả việc quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt, xác định khung hình phạt và quyết 14 định các biện pháp tư pháp cũng không phù hợp với các quan điểm về quyết định hình phạt mà tác giả đã trích dẫn và phân tích ở trên. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như sau: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là việc Tòa án căn cứ vào các quy định của BLHS, tinh chất của đông phạm, tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng người dong phạm, nhân thân của những người đồng phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS dé lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể dé áp dụng đổi với những người đồng phạm.