Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển nhanh chóng của các công trình xây dựng hiện đại đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi sang các dòng vật liệu xanh thân thiện với môi trường. Tại các quốc gia tiên tiến, gạch bê tông khí chưng áp (Autoclaved Aerated Concrete - AAC) đã khẳng định vị thế vượt trội khi chiếm tới 80% thị phần tại Nhật Bản, 60% tại Đức và 40% tại Anh. Ở Việt Nam, thực hiện Quyết định số 567/TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát triển vật liệu xây dựng không nung thay thế gạch đất sét nung, gạch block AAC đã được đầu tư mạnh mẽ với gần 30 doanh nghiệp triển khai dây chuyền công suất từ 100.000 đến 200.000 m³/năm.

Mặc dù sở hữu tỷ trọng nhẹ (500 - 600 kg/m³) và khả năng cách nhiệt tối ưu (hệ số dẫn nhiệt 0,15 W/m.K), gạch AAC thông thường tồn tại rào cản kỹ thuật lớn là độ hút nước rất cao, dao động từ 50% đến 60% sau 24 giờ ngâm nước. Hiện tượng hút nước quá mức làm tăng tải trọng công trình, suy giảm cường độ chịu nén và khiến lớp vữa xây trát thông thường theo tiêu chuẩn TCVN 6016:1995 bị mất nước nhanh, dẫn đến nứt nẻ và bong tróc.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lê Thanh Quãng tại Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết triệt để vấn đề này. Luận văn tập trung nghiên cứu ứng dụng phụ gia hữu cơ polydimethyl siloxane (PDMS) đưa trực tiếp vào công đoạn phối trộn tạo hình tại nhà máy E-block Tân Kỷ Nguyên trong năm 2016. Kết quả thực nghiệm cho thấy phụ gia PDMS giúp hạ độ hút nước 24 giờ của gạch từ 56,71% xuống chỉ còn 8,27%, đáp ứng trọn vẹn tiêu chuẩn TCVN 7959:2011 mà vẫn duy trì cấp cường độ nén B3.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển vi cấu trúc khoáng thủy nhiệt và cơ chế phản ứng kỵ nước bề mặt trong vật liệu silicat:

  • Quá trình hình thành khoáng Calcium Silicate Hydrate (C-S-H): Dưới điều kiện chưng áp ở nhiệt độ 180°C và áp suất hơi bão hòa 1,20 MPa, phản ứng giữa vôi sống (CaO), cát thạch anh nghiền mịn (SiO₂) và xi măng tạo nên các pha khoáng tobermorite 11 Å ($C_5S_6H_5$) dạng tấm và xonotlite ($C_6S_6H$) dạng hình kim, đóng vai trò tạo khung chịu lực chính cho gạch AAC.
  • Mô hình hệ thống lỗ rỗng ba cấp: Cấu trúc gạch AAC gồm lỗ rỗng bọt khí nhân tạo (kích thước 50 - 500 µm do bột nhôm sinh khí hydro tạo ra), lỗ rỗng mao dẫn macro (50 nm - 50 µm) và lỗ rỗng vi mao dẫn micro (< 50 nm) phân bố xen kẽ giữa các tinh thể C-S-H.
  • Cơ chế liên kết của polyme siloxan: Phụ gia PDMS với công thức tổng quát $CH_3[Si(CH_3)_2O]_nSi(CH_3)_3$ chứa các nhóm silanol tham gia liên kết hóa học với pha nền khoáng silicat, hướng các nhóm alkyl $-CH_3$ kỵ nước ra ngoài bề mặt mao quản, ngăn chặn hiện tượng thấm mao dẫn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm đồng bộ trên dây chuyền sản xuất công nghiệp và phòng thí nghiệm chuyên sâu:

  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu ngẫu nhiên từ khối bê tông thể tích 4,7 m³/khuôn tại nhà máy. Cấp phối tối ưu sử dụng 11,5 kg phụ gia PDMS kết hợp cùng 591 kg xi măng, 180 kg vôi, 1970 kg vữa cát, 46,5 kg thạch cao, 3,58 kg bột nhôm và 1612 kg nước. Số lượng mẫu thử nghiệm gồm 6 nhóm mẫu lập phương kích thước 40 x 40 x 40 mm và 100 x 100 x 100 mm cho từng phép đo đối chứng.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích:
    • Đo độ hút nước: Thực hiện ngâm mẫu ngập sâu dưới nước 50 mm theo các mốc 24 giờ và 72 giờ nhằm xác định chính xác động học thẩm thấu.
    • Kiểm tra cơ lý: Xác định khối lượng thể tích khô và cường độ nén trên máy nén thủy lực với tốc độ tăng tải chuẩn 1,5 kN/s theo tiêu chuẩn TCVN 6477:2011; đo độ bám dính vữa xây trát theo TCVN 3121-12:2003 với tốc độ kéo 0,5 kN/s.
    • Phân tích cấu trúc vật liệu: Kính hiển vi điện tử quét FE-SEM S4800 (Hitachi) giúp quan sát sự che phủ của phụ gia trên thành vách mao quản; phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) xác định tín hiệu dao động liên kết $-CH_3$; nhiễu xạ tia X (XRD D8-ADVANCED, điện áp 40 kV, dòng 40 mA, quét $2\theta$ từ 3° đến 50°) nhằm kiểm soát tính ổn định của khoáng tobermorite.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Khả năng giảm độ hút nước vượt bậc: Gạch AAC có phụ gia PDMS đạt độ hút nước trung bình sau 24 giờ là 8,27 ± 0,44%, giảm tới 85,42% so với gạch AAC thương mại thông thường (56,71 ± 0,47%). Sau 72 giờ ngâm nước liên tục, độ hút nước của mẫu dùng PDMS chỉ đạt 18,90 ± 0,68%, trong khi gạch thông thường đạt mức bão hòa 60,37 ± 0,53%.
  • Duy trì cấp cường độ chịu nén tiêu chuẩn: Mẫu gạch AAC bổ sung 11,5 kg PDMS đạt cường độ nén trên 3,0 MPa, thỏa mãn hoàn toàn cấp cường độ B3 theo TCVN 7959:2011, đảm bảo khả năng chịu tải của kết cấu tường bao che.
  • Bảo toàn khối lượng thể tích khô: Khối lượng thể tích khô của mẫu chống thấm dao động trong dải 500 - 600 kg/m³, không làm tăng tải trọng tĩnh của công trình xây dựng.
  • Bảo toàn vi cấu trúc tinh thể: Phổ XRD xác nhận các đỉnh nhiễu xạ đặc trưng của khoáng tobermorite 11 Å và xonotlite vẫn xuất hiện rõ nét, chứng minh PDMS không cản trở quá trình thủy hóa và kết tinh khoáng lực học trong buồng hấp autoclave.

Thảo luận kết quả

Cơ chế giảm hút nước được minh chứng rõ rệt qua phân tích phổ FTIR và ảnh chụp FE-SEM. Trên phổ FTIR của mẫu gạch dùng PDMS, sự xuất hiện của các dải hấp thụ đặc trưng của nhóm methyl $-CH_3$ tại số sóng xung quanh 2960 cm⁻¹ khẳng định phụ gia đã gắn kết bền vững vào khung silicat. Ảnh chụp SEM chỉ ra rằng lớp màng mỏng kỵ nước hữu cơ đã bao phủ kín thành các lỗ rỗng vi mao dẫn (< 50 nm) và mao dẫn macro (50 nm - 50 µm), tạo góc tiếp xúc lớn ngăn nước xâm nhập dưới tác động của áp suất mao dẫn.

Dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh động học hút nước theo thời gian, cho thấy đường cong hút nước của gạch PDMS có độ dốc thấp và đạt trạng thái kháng nước ổn định. Bảng tổng hợp đối chiếu chỉ tiêu cơ lý khẳng định việc bổ sung PDMS ở tỷ lệ 0,26% tổng khối lượng chất kết dính không làm suy giảm độ bám dính giữa gạch và vữa tô thông dụng theo tiêu chuẩn TCVN 3121-12:2003. So với các giải pháp quét chất chống thấm bề mặt ngoại vi vốn dễ bị nứt vỡ khi chịu thời tiết, phương pháp tích hợp phụ gia khối PDMS mang lại độ bền chống thấm vĩnh cửu theo tuổi thọ công trình.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuẩn hóa tỷ lệ phối trộn PDMS trong sản xuất công nghiệp: Các nhà máy sản xuất gạch AAC cần tích hợp định lượng 11,5 kg PDMS dạng lỏng trên một mẻ trộn 4,7 m³ vữa (khoảng 0,2% - 0,3% tổng khối lượng phối liệu khô). Mục tiêu duy trì độ hút nước 24 giờ dưới 10%. Thời gian triển khai thử nghiệm diện rộng trong 3 tháng tại bộ phận QA/QC và công đoạn trộn liệu.
  • Kiểm soát chặt chẽ chế độ chưng áp nhiệt dịch: Duy trì áp suất buồng autoclave ở mức 1,20 MPa và nhiệt độ 180°C trong suốt 18 giờ liên tục. Mục tiêu đạt độ kết tinh khoáng tobermorite 11 Å cực đại và kích hoạt hoàn toàn phản ứng liên kết chéo của gốc siloxan. Đội ngũ kỹ sư công nghệ cần hoàn thành việc hiệu chỉnh thông số vận hành trong vòng 6 tháng.
  • Xây dựng tiêu chuẩn thi công và sử dụng vữa tương thích: Phòng R&D của các doanh nghiệp cần phối hợp ban hành hướng dẫn kỹ thuật sử dụng vữa xây trát thông thường cho gạch AAC chống thấm, bảo đảm cường độ bám dính kéo uốn đạt tối thiểu 0,5 MPa theo TCVN 3121-12:2003. Kế hoạch triển khai hoàn tất trong 12 tháng.
  • Mở rộng nghiên cứu phụ gia kỵ nước thế hệ mới: Các viện nghiên cứu và trường đại học cần hợp tác với doanh nghiệp vật liệu xây dựng để thử nghiệm các biến tính siloxan chuỗi dài nhằm tối ưu chi phí nguyên liệu. Mục tiêu hạ giá thành sản xuất phụ gia từ 15% đến 20% trong lộ trình 2 năm tới do các chủ nhiệm đề tài vật liệu phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Doanh nghiệp sản xuất bê tông khí chưng áp AAC: Ban giám đốc kỹ thuật và kỹ sư vận hành tại các đơn vị như Viglacera, E-block Tân Kỷ Nguyên, Licogi 16 cần tài liệu chuẩn để cải tiến công nghệ, giải quyết triệt để lỗi thấm nước của sản phẩm thương mại.
  • Kỹ sư thiết kế kết cấu và tư vấn giám sát: Các chuyên gia xây dựng công trình dân dụng và nhà cao tầng (như tháp Bitexco 67 tầng hay Vincom Center) có cơ sở dữ liệu tin cậy để tính toán tải trọng tường nhẹ 500 - 600 kg/m³ và chỉ định vật liệu chống thấm cho tường ngoài trời.
  • Nhà thầu thi công xây dựng: Đội ngũ chỉ huy trưởng công trường và kỹ thuật viên thi công nắm bắt được tính chất vật lý của gạch AAC biến tính, từ đó áp dụng vữa xây trát thông thường hiệu quả, giảm thiểu chi phí phát sinh cho các loại vữa chuyên dụng đắt tiền.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Vật liệu: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Silicat và Vật liệu xây dựng tìm thấy khung tham chiếu phương pháp luận chuẩn xác về phân tích phổ XRD, FE-SEM và FTIR trong nghiên cứu tương tác polyme - khoáng vô cơ chưng áp.

Câu hỏi thường gặp

  • Phụ gia PDMS cải thiện khả năng chống thấm của gạch block AAC theo cơ chế nào? Phụ gia PDMS dạng lỏng liên kết hóa học với mạng lưới calcium silicate hydrate (C-S-H) trong buồng chưng áp 180°C, đưa các nhóm methyl $-CH_3$ kỵ nước phủ kín thành lỗ rỗng mao dẫn kích thước từ 50 nm đến 50 µm, triệt tiêu lực hút mao dẫn nước vào khối bê tông.

  • Việc bổ sung 11,5 kg phụ gia PDMS có làm giảm cường độ chịu nén của gạch B3 không? Thực nghiệm nén mẫu lập phương trên thiết bị chuẩn với tốc độ 1,5 kN/s chứng minh gạch AAC chứa PDMS vẫn duy trì cường độ nén trên 3,0 MPa, đạt cấp cường độ B3 theo đúng tiêu chuẩn TCVN 7959:2011 mà không làm thay đổi tỷ trọng khô 500 - 600 kg/m³.

  • Gạch AAC có phụ gia PDMS có tương thích tốt với vữa trát thông thường không? Thử nghiệm độ bám dính theo TCVN 3121-12:2003 cho thấy vữa xi măng thông thường đạt độ bám dính tốt trên bề mặt gạch PDMS, do gạch không còn hút cạn nước trộn của vữa quá nhanh, giúp vữa ninh kết đủ nước và hạn chế tối đa rạn nứt bề mặt.

  • Chi phí sản xuất gạch AAC có tăng đáng kể khi ứng dụng công nghệ này không? Hàm lượng PDMS sử dụng chỉ chiếm khoảng 0,26% tổng lượng vật liệu trong khuôn 4,7 m³. Chi phí phụ gia tăng thêm được bù đắp hoàn toàn nhờ việc loại bỏ công đoạn quét sơn chống thấm chuyên dụng bên ngoài và tiết kiệm chi phí vữa lớp mỏng đắt tiền trong thi công.

  • Các thông số chưng áp tối ưu để phụ gia phát huy hiệu quả là gì? Quá trình dưỡng hộ thủy nhiệt bắt buộc phải đạt nhiệt độ 180°C, áp suất bão hòa 1,20 MPa trong thời gian 18 giờ. Điều kiện này cung cấp đủ động học nhiệt để các nhóm silanol trong PDMS phản ứng ghép nối bền chặt với khoáng tobermorite 11 Å.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã chế tạo thành công gạch block AAC chống thấm khối bằng cách phối trộn trực tiếp 11,5 kg phụ gia hữu cơ PDMS vào quy trình sản xuất thực tế tại nhà máy.
  • Độ hút nước của gạch sau 24 giờ giảm mạnh 85,42% (từ 56,71% xuống 8,27%), giải quyết dứt điểm nhược điểm lớn nhất của bê tông khí chưng áp tại Việt Nam.
  • Toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng như cấp cường độ nén B3 (≥ 3,0 MPa), khối lượng thể tích khô (500 - 600 kg/m³) và độ co khô đều thỏa mãn tiêu chuẩn TCVN 7959:2011.
  • Cơ chế kỵ nước mao quản được chứng minh rõ nét qua việc bảo toàn pha tinh thể tobermorite 11 Å trên phổ XRD và lớp màng methyl $-CH_3$ trên ảnh SEM cùng phổ FTIR.
  • Giải pháp kỹ thuật mở ra hướng đi đột phá giúp gạch AAC thay thế hoàn toàn gạch đất sét nung theo định hướng vật liệu xanh quốc gia.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện cơ chế phản ứng ghép nối siloxan trong môi trường thủy nhiệt, mang lại giải pháp chống thấm nội vi vĩnh cửu cho vật liệu xây dựng nhẹ. Các doanh nghiệp sản xuất gạch block AAC cần khẩn trương phối hợp triển khai thử nghiệm công nghệ này trên dây chuyền công nghiệp trong lộ trình 6 đến 12 tháng tới để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy các công trình xây dựng bền vững.