Luận án tiến sĩ: Phát triển anten thấu kính chỉ số khúc xạ âm đa búp sóng cho trạm gốc 28 GHz

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm, tạo đa búp sóng cho trạm gốc thông tin di động băng tần 28 GHz.

Trường đại học

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Chuyên ngành

Kỹ thuật điện tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

144
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ANTEN CHO TRẠM GỐC TRONG THÔNG TIN DI ĐỘNG BĂNG TẦN 28 GHz

1.1. Những vấn đề chung về anten cho trạm gốc trong thông tin di động 5G

1.2. Tổng quan về anten thấu kính

1.2.1. Giới thiệu chung

1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm của anten thấu kính

1.2.3. Phân loại và ứng dụng

1.2.4. Vật liệu của thấu kính

1.2.5. Nguồn phát xạ của anten thấu kính

1.3. Kỹ thuật tạo đa búp sóng cho anten thấu kính

1.4. Các công trình nghiên cứu có liên quan

1.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.4.2. Các nghiên cứu trong nước

1.5. Đánh giá chung

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ANTEN THẤU KÍNH CÓ CHỈ SỐ KHÚC XẠ ÂM ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CHO TRẠM GỐC BĂNG TẦN 28 GHz

2.1. Mô hình cấu trúc anten thấu kính

2.2. Nguồn phát xạ của anten thấu kính

2.3. Các mô hình cấu trúc thấu kính

2.4. Phương pháp và các tham số mô phỏng

2.5. Mô phỏng và đánh giá kết quả

2.6. Đề xuất giải pháp tính toán, xác định cấu trúc anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm với điều kiện Straight line

2.6.1. Phương pháp tính toán cấu trúc thấu kính có chỉ số khúc xạ âm với điều kiện Straight line

2.6.2. Mô hình cấu trúc anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm với điều kiện Straight line

2.6.3. Mô phỏng, đánh giá kết quả

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TẠO ĐA BÚP SÓNG CHO ANTEN THẤU KÍNH CÓ CHỈ SỐ KHÚC XẠ ÂM

3.1. Xác định vùng hội tụ của thấu kính có chỉ số khúc xạ âm bằng phương pháp ray tracing

3.1.1. Phương pháp xác định vùng hội tụ

3.1.2. Các bước tính toán vùng hội tụ

3.2. Đánh giá đặc tính bức xạ của anten thấu kính khi nguồn phát xạ dịch chuyển trên các quỹ đạo

3.3. Nghiên cứu thiết kế anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm tạo đa búp sóng

3.3.1. Cấu trúc anten thấu kính NRI tạo đa búp sóng

3.3.2. Mô phỏng đánh giá kết quả

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về anten cho trạm gốc trong thông tin di động băng tần 28 GHz

Nghiên cứu về anten thấu kính cho trạm gốc trong thông tin di động băng tần 28 GHz là một lĩnh vực quan trọng trong công nghệ truyền thông hiện đại. Anten thấu kính có khả năng tạo ra nhiều búp sóng, giúp cải thiện hiệu suất truyền tải dữ liệu. Việc sử dụng chỉ số khúc xạ âm trong thiết kế anten cho phép giảm kích thước và trọng lượng của anten, đồng thời duy trì khả năng bức xạ cao. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng anten thấu kính có thể đáp ứng được yêu cầu khắt khe của hệ thống 5G, bao gồm khả năng định hướng cao và giảm thiểu suy hao năng lượng. Theo một nghiên cứu gần đây, việc áp dụng anten thấu kính với chỉ số khúc xạ âm đã cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc tạo ra đa búp sóng, điều này rất cần thiết cho các trạm gốc trong mạng 5G.

1.1. Ưu điểm và nhược điểm của anten thấu kính

Anten thấu kính có nhiều ưu điểm nổi bật, bao gồm khả năng tạo ra búp sóng đa dạng và tính định hướng cao. Anten thấu kính giúp giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường xung quanh, nhờ vào cấu trúc thiết kế đặc biệt. Tuy nhiên, một số nhược điểm cũng cần được xem xét, như chi phí sản xuất cao và yêu cầu về vật liệu có chỉ số khúc xạ âm. Việc nghiên cứu và phát triển các vật liệu mới có thể giúp khắc phục những nhược điểm này, đồng thời nâng cao hiệu suất của anten thấu kính trong các ứng dụng thực tế.

II. Nghiên cứu phát triển anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm

Nghiên cứu phát triển anten thấu kínhchỉ số khúc xạ âm là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực anten cho trạm gốc. Việc áp dụng chỉ số khúc xạ âm cho phép thiết kế anten có kích thước nhỏ gọn hơn, đồng thời vẫn duy trì được hiệu suất bức xạ cao. Các mô hình cấu trúc thấu kính đã được đề xuất và mô phỏng bằng phần mềm hiện đại như Ansys HFSS. Kết quả cho thấy rằng anten thấu kính có thể tạo ra đa búp sóng với hiệu suất tốt, đáp ứng được yêu cầu của hệ thống thông tin di động băng tần 28 GHz. Việc nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cao trong việc phát triển các trạm gốc trong mạng 5G.

2.1. Mô hình cấu trúc anten thấu kính

Mô hình cấu trúc của anten thấu kính được thiết kế dựa trên các nguyên lý vật lý của chỉ số khúc xạ âm. Các mô hình này cho phép xác định các tham số bức xạ và khả năng tạo đa búp sóng. Việc sử dụng phương pháp ray tracing để xác định vùng hội tụ của thấu kính đã cho thấy hiệu quả trong việc tối ưu hóa thiết kế. Kết quả mô phỏng cho thấy rằng anten thấu kính có thể hoạt động hiệu quả trong dải tần số 28 GHz, với khả năng tạo ra nhiều búp sóng đồng thời, điều này rất quan trọng cho các ứng dụng trong thông tin di động.

III. Ứng dụng anten thấu kính trong thông tin di động

Ứng dụng của anten thấu kính trong thông tin di động băng tần 28 GHz đang trở thành một xu hướng quan trọng. Với khả năng tạo ra đa búp sóng và tính định hướng cao, anten thấu kính có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về tốc độ dữ liệu và độ trễ thấp trong mạng 5G. Việc nghiên cứu và phát triển anten thấu kính không chỉ giúp cải thiện hiệu suất truyền tải mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất và năng lượng tiêu thụ. Các ứng dụng thực tiễn của anten thấu kính trong các trạm gốc sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực thông tin di động.

3.1. Tính khả thi và triển vọng

Tính khả thi của việc áp dụng anten thấu kính trong các trạm gốc là rất cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng chỉ số khúc xạ âm trong thiết kế anten có thể mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm kích thước và trọng lượng của anten. Triển vọng phát triển anten thấu kính trong tương lai sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành công nghiệp viễn thông, đặc biệt là trong việc triển khai mạng 5G. Sự phát triển này không chỉ mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất mà còn cho người tiêu dùng thông qua việc cải thiện chất lượng dịch vụ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển anten thấu kính có chỉ số khúc xạ âm tạo đa búp sóng cho trạm gốc trong thông tin di động băng tần 28 ghz

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ANTEN CHO TRẠM GỐC TRONG THÔNG TIN DI ĐỘNG BĂNG TẦN 28 GHz 1. Những vấn đề chung về anten cho trạm gốc trong thông tin di động 5G Trong hệ thống thông tin di động, anten là một thành phần quan trọng không thể thiếu, chúng là cầu nối giữa các thiết bị di động và hệ thống thông tin. Anten xuất hiện cả phía phát và phía thu, có nhiệm vụ bức xạ hoặc thu nhận sóng điện từ trong không gian và mang theo tín hiệu chứa tin tức cần truyền nhận. Anten tại các trạm gốc (BTS: Base Transceiver Station) có khả năng bức xạ toàn bộ vùng phủ sóng, cho phép cải thiện đáng kể phạm vi và dung lượng của hệ thống thông tin di động.

Trạm gốc Thiết bị di động Búp sóng hẹp Hình 1. Búp sóng hẹp của anten tại tạm thu phát gốc Hình 1.1: Búp sóng hẹp của anten tại trạm gốc. 8 9 Mô hình anten tại trạm gốc có búp sóng hẹp được thể hiện như trong Hình 1. Búp sóng hẹp hướng thẳng về phía thiết bị mong muốn và dịch chuyển theo sự di chuyển của thiết bị di động.

Khi so sánh với anten đa hướng, anten định hướng có hệ số tăng ích cao, phạm vi liên lạc xa hơn, hạn chế nhiễu, và cho phép việc tái sử dụng tần số đối với các trạm gốc lân cận và khi triển khai thêm các trạm BTS mới. BS signal strength(dBm) BS signal strength(dBm) -95.0 518 m 224 m (a) fc = 900 MHz (b) fc = 28 GHz Hình 1.2: Cấu trúc vùng phủ sóng của các trạm gốc với fc = 900 MHz và 28 GHz. Đối với các trạm BTS thế hệ thứ tư trở về trước, cấu trúc mạng các trạm gốc hoạt động ở tần số trung tâm là 900 MHz có các trạm gốc nằm cách nhau khoảng 1 km và bán kính phạm vi phủ sóng khoảng 500 m, được thể hiện như trong Hình 1. Mật độ của các anten tại trạm gốc sẽ do số lượng người dùng thực tế quyết định.

Đối với cấu trúc mạng các trạm gốc của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ năm hoạt động ở băng tần 28 GHz có số lượng trạm gốc nhiều hơn, bố trí dày đặc hơn, được thể hiện trong Hình 1. Do hoạt động ở dải sóng milimét nên suy hao đường truyền của anten tại trạm 10 gốc này cao hơn so với thế hệ anten tại trạm gốc trước đó. Để duy trì mức năng lượng đồng đều, đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, khoảng cách giữa các trạm gốc đã giảm từ 1 km xuống 400 m. Đối với hệ thống thông tin di động 4G hiện tại hoạt động ở băng tần 0,7 GHz - 2,7 GHz có suy hao đường truyền trong không gian tự do là 87 dB ở khoảng cách 200 m, trong khi đó đối với hệ thống thông tin di động 5G hoạt động ở băng tần 28 GHz có suy hao đường truyền cao là 107 dB [23].

Tuy nhiên, do sự suy hao đường truyền có thể ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, các chướng ngại vật như tòa nhà, cây cối và địa hình nên khoảng cách giữa các trạm gốc được thiết lập trong khoảng bán kính 200 m. Do đó, anten tại trạm gốc trong thông tin di động 5G phải có khả năng bức xạ cao để bù lại suy hao truyền dẫn. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, sự phát triển của các thiết bị không dây tăng lên nhanh chóng, các ứng dụng của các thiết bị không dây đa phương tiện ngày càng nhiều kéo theo nhu cầu về dữ liệu và tốc độ xử lý ngày càng lớn. Do đó, hệ thống anten ở trạm BTS phải có khả năng tạo ra đa búp sóng, quét búp sóng góc rộng.

Anten đa búp sóng có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ cải thiện tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu (SIR: Signal to Interference Ratio), tốc độ truyền dữ liệu cao, tăng hiệu suất sử dụng năng lượng và phổ tần, định hình búp sóng linh hoạt. Mô hình về anten đa búp sóng cho trạm gốc trong thông tin di động 5G được trình bày trong Hình 1. Anten trạm gốc trong hệ thống thông tin thế hệ mới phải có khả năng tạo ra được nhiều búp sóng trong cả phương thẳng đứng và phương ngang. Các búp sóng trong phương thẳng đứng sẽ đáp ứng cho người dùng di động ở các nhà cao tầng, chung cư.

Trong khi đó các búp sóng phân bố theo phương ngang sẽ đáp ứng cho các thiết bị di động hoạt động trên mặt đất. Các anten 11 Trạn BTS Phương thẳng đứng Phương thẳng đứng Phương ngang 200 mét Thiết bị di động Hình 1.3: Mô hình về anten đa búp sóng cho trạm gốc trong thông tin di động 5G. tại trạm gốc được thiết kế với một mạng chuyển mạch đa búp sóng để phân phối các búp sóng thích hợp cho mỗi người dùng di động cụ thể. Hệ thống thông tin di động 5G được cho là đã tận dụng một cách tối ưu phổ tần khi sử dụng cả hai dải tần là dải tần số cao trên 24 GHz và dải tần số thấp dưới 6 GHz.

Dải tần số thấp nằm trong phổ tần dưới 6 GHz, và các anten M-MIMO trong dải tần này được sử dụng để phủ sóng ở các macro cell và cung cấp dung lượng cơ bản. Tần số khả dụng trong băng tần này bao gồm 3,3 - 3,8 GHz và 4,4 - 5,0 GHz. Đối với dải tần số cao trên 24 GHz và các anten M-MIMO trong băng tần này được sử dụng cho các điểm phát sóng, vùng phủ sóng trong nhà và kết nối giữa mạng trung tâm (mạng trục, mạng lõi) và các mạng con từ xa. Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã công bố dải tần số trên 24 GHz cho thông tin di động 5G, bao gồm các băng tần 24 - 29 GHz, 37 - 40 GHz và 60 - 76 GHz [24].

Ngoài ra, Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC: Federal Communications Commission) của 12 Mỹ và các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc đã xác định băng tần 28 GHz (N257) và 39 GHz (N260) là băng tần trung tâm sẽ được sử dụng trong các nghiên cứu về thông tin di động 5G. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học thực hiện ứng dụng công nghệ sóng milimét trong hệ thống thông tin di động, điều này sẽ thúc đẩy các nghiên cứu, thiết kế và ứng dụng các công nghệ anten dải sóng milimét. Bằng việc sử dụng sóng milimét tại trạm gốc, kích thước anten của trạm gốc trở nên nhỏ hơn và gần bằng một phần mười kích thước của anten ở trạm gốc thế hệ trước đó [25]. Anten tại trạm gốc có kích thước nhỏ sẽ giúp cho việc triển khai, lắp đặt được dễ dàng hơn, giảm được các tác nhân từ bên ngoài môi trường và giảm chi phí sản xuất.

Hệ thống anten ở trạm BTS cho thông tin di động 5G sử dụng dải sóng milimét cho phép các nhà nghiên cứu, chế tạo lựa chọn nhiều loại anten khác nhau như: anten mảng pha, anten mặt phản xạ, hoặc anten thấu kính,. Trong đó, anten thấu kính với khả năng bức xạ năng lượng tốt, tính định hướng cao, khả năng tạo đa búp sóng, xoay búp sóng là một trong những ứng viên tiềm năng ứng dụng cho trạm gốc trong thông tin di động dải sóng milimét. Tổng quan về anten thấu kính 1. Giới thiệu chung Vào đầu những năm 1880, Heinrich Hertz, một nhà vật lý người Đức, đã nghiên cứu thấu kính điện môi kết hợp với nguồn phát xạ và chứng minh sự hoạt động của thấu kính trong môi trường trường điện từ.

Đến năm 1888, Oliver Lodge đã thiết kế anten thấu kính điện môi đầu tiên trong các thí nghiệm của mình hoạt động ở bước sóng 1 mét [26]. Tuy nhiên, phải đến 13 Chiến tranh Thế giới thứ hai, anten thấu kính mới được nghiên cứu và phát triển rộng rãi hơn. Nhưng tại thời điểm đó, ở dải sóng siêu cao tần, kích thước của anten thấu kính cồng kềnh và nặng hơn so với anten mặt phản xạ, do đó, anten thấu kính ít được quan tâm hơn so với anten mặt phản xạ. Với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ chế tạo mạch hoạt động trong dải sóng milimét và Sub-mmW trong hai thập kỷ qua, đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu có sự quan tâm ngày càng nhiều đến anten thấu kính, với công nghệ mới, kích thước của loại anten này được chế tạo nhỏ gọn hơn, đáp ứng được các yêu cầu và ứng dụng thực tế.

Với cấu trúc đặc biệt, nguồn phát xạ đặt phía sau thấu kính nên anten không bị ảnh hưởng bởi sự che khuất của nguồn phát xạ. Do đó, anten thấu kính có thể tạo được đa búp sóng dễ dàng hơn, có khả năng định hình búp sóng và xoay búp sóng theo mục tiêu. Trong hầu hết các trường hợp, dạng bức xạ của các tia sóng ở đầu ra của thấu kính là tia sóng chuẩn trực (sóng đầu ra có dạng sóng phẳng, đồng pha) cố định hoặc có khả năng quét búp sóng. Anten thấu kính là một dạng của anten mặt mở nên anten có tính định hướng cao, biên độ cánh sóng bên thấp và anten thấu kính được coi là một giải pháp thay thế đáng tin cậy cho anten mặt phản xạ ở dải sóng milimét.

Thấu kính có thể được sử dụng để hiệu chỉnh pha hoặc biên độ (hoặc cả hai) của nguồn phát xạ chính để biến nó thành dạng bức xạ đầu ra như mong muốn. Theo nghĩa này, thấu kính có chức năng tương đương với gương phản xạ. Tuy nhiên, thay vì phản xạ, nguyên tắc hoạt động của thấu kính dựa trên sự khúc xạ của sóng điện từ tại bề mặt thấu kính (trong trường hợp thấu kính đồng nhất đẳng hướng), hoặc bên trong vật liệu điện môi của thấu kính trong trường hợp thấu kính với chỉ số khúc xạ không đồng nhất.4(a) 14 Thấu kính Mặt phản xạ Tiêu điểm (a) Anten thấu kính (b) Anten mặt phản xạ Hình 1.4: Cấu trúc anten thấu kính và anten mặt phản xạ. thể hiện cấu trúc cơ bản nhất của anten thấu kính, các tia song song của sóng phẳng đi tới thấu kính bị khúc xạ tại bề mặt sau đó đi xuyên qua thấu kính và hội tụ tại một điểm, gọi là tiêu điểm của thấu kính.

Tất cả các tia này có cùng độ dài điện, nghĩa là chúng đến cùng pha tại tiêu điểm (nguyên lý Fermat), mặc dù độ dài vật lý của chúng khác nhau, nhưng chúng được bù bằng vận tốc pha chậm hơn (v = c/n) trong các phần khác nhau của thấu kính. Trong hầu hết các thiết kế, kích thước thấu kính lớn so với bước sóng hoạt động cho phép sử dụng các phương pháp thiết kế dựa trên nguyên lý quang hình [27].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu phát triển anten thấu kính chỉ số khúc xạ âm đa búp sóng cho trạm gốc 28 GHz là một tài liệu chuyên sâu về công nghệ anten, tập trung vào việc thiết kế và phát triển anten thấu kính với chỉ số khúc xạ âm, hỗ trợ đa búp sóng cho các trạm gốc hoạt động ở tần số 28 GHz. Nghiên cứu này mang lại những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực viễn thông, đặc biệt là trong việc nâng cao hiệu suất và độ ổn định của hệ thống mạng 5G. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động, cấu trúc anten, và các ứng dụng thực tiễn của công nghệ này trong viễn thông hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, cung cấp cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kỹ thuật. Ngoài ra, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp tối ưu hóa trong nghiên cứu và phát triển công nghệ. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ xây dựng thuật toán trích xuất số phách trên phiếu trả lời trắc nghiệm của trường đại học phan thiết cung cấp góc nhìn về ứng dụng thuật toán trong thực tiễn, một chủ đề liên quan đến kỹ thuật và công nghệ.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề liên quan và mở rộng kiến thức của bạn!