CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE DAT NÔNG NGHIỆP SỬ DỤNG VÀO MỤC DICH CONG {CH VA PHÁP LUẬT VE DAT NONG NGHIỆP SU DUNG VÀO MỤC DICH CONG ICH CUA XÃ, PHUONG, THỊ TRAN 1. Lý luận về đất nông nghiệp và đất nông nghiệp sử dung vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn 1. Lý luận về đất nông nghiệp 1. Khải niệm đất nông nghiệp Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp được hiểu là loại đất dé trồng lúa, trồng các loại lương thực như ngô, khoai, sắn,.Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp còn phong phú hơn thế.
Ngoài việc trồng trọt, canh tác các loại cây lương thực trên, đất nông nghiệp còn được sử dụng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay trồng rừng,. Theo Từ điển Luật học xuất bản năm 1999, DNN được quan niệm như sau: “Đất nông nghiệp: đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trong trọt, chăn nuôi, nuôi trong thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Dat nông nghiệp bao gôm: đất trong cây hàng năm, đất nông nghiệp trông cây lâu năm, đất vườn, mặt nước nội địa, đất có mặt nước ven biển dé sản xuất nông nghiệp, đất bãi bôi cửa sông, đất bãi bôi ven biển v. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), đất nông nghiệp được hiểu là: “Tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trong trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dich vụ ” ° Luật Dat dai 1993 quy định về khái niệm DNN tại điều 42 như sau: “Dat nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trong trot, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm vê nông ' Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội; tr.151 ? Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), Từ điên Luật học, Nxb Từ điên Bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà Nội - 2006, tr.
Theo định nghĩa nên trên, căn cứ vào mục dich sử dụng chính, đất ở Việt Nam được chia làm 6 loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn và đất chưa sử dụng. Tuy nhiên, sự phát triển nền kinh tế bay giờ có sự thay đổi theo hướng kinh tế thị trường phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với việc phát triển các mô hình kinh tế trang trại hộ gia đình. Các mô hình này có hình thức kinh doanh tổng hợp kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp với nuôi trồng thủy sản. Từ đó dẫn đến việc phân biệt giữa đất trồng cây nông nghiệp với đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản dần không còn rõ ràng.
Ngoài ra, với những quy định của Luật Đất đai năm 1993 trên thực tế sẽ gây khó khăn cho người sử dụng đất trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất của cùng một đối tượng sử dụng để phù hợp với xu hướng của thị trường. Do thực tế đó, trên tinh thần kế thừa Luật Dat dai 1993 và có những thay đổi dé phù hợp hơn, Luật Dat đai năm 2003 ra đời đã không dé cập cụ thé về khái niệm đất nông nghiệp mà đưa ra thuật ngữ “Nhóm dat nông nghiệp”. Theo đó, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được chia làm 03 nhóm (có thé hiểu là 03 loại) là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loạt đất cụ thể sau: - Dat trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; - Dat trồng cây lâu năm; - Pat rig sản xuất; - Dat rig phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Pat nuôi trồng thủy sản; - Pat làm muối; - _ Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Nhìn vào những quy định trên, có thé thay khái niệm đất nông nghiệp đã được mở rộng với cái tên là “nhóm đât nông nghiệp”. Và như vậy, trong nhóm đât nông nghiệp sẽ bao gồm nhiều loại đất (có bao gồm luôn đất lâm nghiệp theo quy định Luật Dat dai 1993 trước đây). Sự phân loại này là hợp lí ở thời điểm bấy giờ, bởi chúng đảm bảo sự quản lí đất đai của Nhà nước được tập trung, thống nhất, giúp các hoạt động quản lí đất đai như: theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình khai thác, sử dụng dat,. ở địa phương dễ dàng, thuận lợi.
Bên cạnh đó, xét từ thực tế sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân từ lâu, họ thường không sử dụng riêng rẽ các loại đất mà thay vào đó là sự đan xen của việc khai thác và sử dụng kết hợp của nhiều loại đất khác nhau như đất: trồng lúa, trồng màu, trồng cây ăn quả, đất nuôi trồng thuỷ sản hoặc kết hợp với trồng rừng sản xuất, đất làm muối. Nhu cầu này là điều dễ lí giải, vì khi khai thác và sử dụng như vậy sẽ giúp đối tượng sử dụng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật. Kế thừa những điểm phù hợp mà LDD 2003 đã quy định về khái niệm đất nông nghiệp khắc phục những điểm không còn phù hợp trên thực tế, LDD 2013 có những quy định mới đối với khái niệm đất nông nghiệp như sau: Ddt nông nghiệp được hiểu là loại đất sử dụng vào mục đích sản xuất về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trong thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Dat nông nghiệp bao gom dat sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Qua đó, hiểu một cách đơn giản theo mục đích sử dụng, thì ĐNN là loại đất phục vụ các nhu cầu sản xuất nông nghiệp, là tư liệu sản xuất chủ yeu dac biét không thé thay thé của ngành nông - lâm nghiệp Ở Việt Nam, đất nông nghiệp chiếm một tỉ lệ tương đối lớn trong tổng diện tích đất đai và được phân bố rộng khắp trên phạm vi cả nước. Theo công bố kết quả thống kê diện tích dat đai của cả nước năm 2021”, tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33. Trong đó, diện tích nhóm đất nông nghiệp là 27.319 ha; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 3.158 ha; diện tích nhóm đất chưa sử ; Theo Quyết định số 719/OD-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai của Việt Nam (tính đến ngày 31/12/2021). Với quy định về khái niệm DNN ở phạm vi rộng như vậy là điều hợp lí và phù hợp với thực tế sử dụng đất của nước ta, có ý nghĩa trong việc nhà nước sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên DNN vào các mục đích khác, trong đó có sử dụng DNN vào mục dich công ich Từ những phân tích trên, theo tác giả, khái niệm DNN có thé được hiểu như sau: Đá: nông nghiệp bao gồm tổng thé các loại đất có cùng đặc tính sử dung và là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục dich sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trông thủy sản, làm muối, trồng rừng, khoang nuôi, tu bổ, bảo vệ và phát triển rừng; nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp.
Dac điểm đất nông nghiệp Là một bộ phận trong hệ thống đất đai nói chung, DNN cũng mang những đặc điểm chung của đất đai ở nước ta, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn mang những đặc điểm riêng, đó là: Thứ nhất, yêu tố quyết định giá trị sử dụng đất chủ yếu là chất lượng và độ màu mỡ, phì nhiêu cua đất đai. Với đặc tính là sử dụng làm tư liệu sản xuất nên việc xác định gia tri của đất lại phụ thuộc vào chất lượng của đất, mà chất lượng đất được quyết định bởi các thuộc tính tự nhiên như độ phì hay độ màu mỡ, cung cấp các nguồn sống cho cây trồng trong quá trình phát triển. Vì có đặc điểm này, mà việc quy định của pháp luật về kế hoạch, quy hoạch sử dụng đắt, thu hồi đất, chuyên đổi mục dich sử dung đất,. được quy định một cách nghiêm ngặt, nhất là với những loại đất có giá tri sử dung cao như đất trồng lúa — dem lại nguồn sống và nguồn thu cho phần đông dân só, tránh lãng phí khi sử dụng vào các mục đích khác Thứ hai, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muỗi, ĐNN là tư liệu sản xuất trực tiếp và không thé thay thế.
Ngay ở khái niệm, DNN đã được hiểu là tổng thé của các loại đất sử dụng cho mục dich sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế trong quá trình sử dụng, sử dụng loại đất này phục vụ cho mục đích khác mang lại lợi ích cao hơn mà họ tự ý thay đổi mục đích sử dụng dat so với ban đâu. Với những trường hợp này, thì việc nghiên cứu đặc diém của DNN II với mục đích sử dụng chính là sản xuất nông nghiệp sẽ có mục đích quan trọng, đặc biệt là trong việc sử dụng đất hợp lí và có hiệu quả. Từ những đặc điểm riêng nêu trên, có thê thấy ĐNN là loại đất đặc biệt, chi phối và ảnh hưởng đến những chính sách quy định của pháp luật về đất đai trong việc sử dụng đất một cách hợp lí và hiệu quả.
Đặt ra vấn đề quy định về kiểm soát việc sử dụng DNN, cân đối trong việc quy định sử dụng DNN vào các mục đích khác, nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và đặc biệt không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Phân loại đất nông nghiệp Hiện nay, diện tích DNN ở Việt Nam khá lớn và được phân loại sử dụng theo mục đích sử dụng. Cụ thé tại khoản 1 điều 10, Luật Đất dai 2013, DNN bao gồm: - Pat sản xuất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.