Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về khả năng tự làm sạch của dòng sông Bảo vệ, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên nước là vấn đề sống còn và cấp bách của nhân loại. Quản lý, bảo vệ nguồn nước sông ngày càng trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu. Để đảm bảo việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên nước một cách bền vững, việc nghiên cứu đánh giá tác động do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng đến chất lượng nguồn nước càng phải được nghiên cứu sâu rộng.
Đánh giá khả năng tự làm sạch của dòng sông đóng vai trò hết sức quan trọng trong bảo vệ chất lượng nguồn nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Đây là hướng nghiên cứu được quan tâm nhiều trên thế giới và trong những năm gần đây tại Việt Nam. Do đó, đây là đối tượng quan tâm của nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Trong dòng sông, sự thay đổi nồng độ của các chất ô nhiễm nói chung và chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học nói riêng dưới tác động của các yếu tố tự nhiên được xem là khả năng tự làm sạch, đây cũng là một trong những chức năng quan trọng của môi trường tự nhiên.
Khả năng tự làm sạch của dòng sông được xem như là sự phục hồi của dòng chảy bởi các quá trình tự nhiên khi bị ô nhiễm. Từ khái niệm này nhiều câu hỏi liên quan được đặt ra như: Cơ chế của sự phục hồi hay còn gọi là khả năng tự làm sạch ? Các yếu tố nào liên quan và gây ảnh hưởng đến cơ chế này ? Khả năng tự làm sạch của dòng sông có bị giới hạn không ? Phương pháp nào để đánh giá khả năng tự làm sạch của dòng sông? Các công trình nghiên cứu đã thực hiện phần nào cũng góp phần làm sáng tỏ các câu hỏi đặt ra của các nhà khoa học. Thông qua các kết quả nghiên cứu có thể nói rằng quá trình tự làm sạch của dòng sông là quá trình rất phức tạp, diễn ra đồng thời của các quá trình vật lý, hóa học, sinh học và sự ảnh hưởng qua lại của các yếu tố này [51]. Sự lan truyền, chuyển hóa chất hữu cơ trong dòng sông là quá trình phức tạp, phụ thuộc nhiều yếu tố diễn ra trong dòng chảy.
Việc xem xét tính toán sự lan truyền, chuyển hóa và phân bố chất hữu cơ trong dòng chảy sông theo thời gian đòi hỏi tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm trên đối tượng cụ thể. Khi dòng sông được phục hồi thông qua quá trình tự làm sạch khi đó các chất ô nhiễm được loại bỏ khỏi dòng sông. Các quá trình loại bỏ và các yếu tố ảnh hưởng đến sự loại bỏ các chất ô nhiễm là một trong những mắc xích góp phần làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến khả năng tự làm sạch của dòng sông [51], [56]. Chất lượng nước sông được đánh giá thông qua nhiều thông số khác nhau.
Một trong những thông số được quan tâm là chất hữu cơ bao gồm chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Các nghiên cứu liên quan đến khả năng tự làm sạch của dòng sông thường sử dụng thông số BOD để theo dõi đánh giá và là thông số quan trọng để đánh giá chất lượng nước. Khi nói đến BOD là nói đến DO vì 5 DO trong nước là nguồn cung cấp ôxy cho các vi khuẩn hiếu khí hoạt động phân huỷ chất ô nhiễm hữu cơ. Nói cách khác, BOD là nguyên nhân chính làm giảm DO trong nước và làm suy giảm chất lượng nước.
Do đó, có thể nói BOD và DO là thông số quan trọng trong đánh giá quá trình tự làm sạch của dòng sông. Hệ số tự làm sạch được tính toán dựa trên tỉ lệ giữa hệ số tốc độ hòa tan ôxy vào nước qua mặt thoáng (K2) và hệ số tốc độ tiêu thụ ôxy do quá trình phân hủy chất hữu cơ (K1). Các dòng sông khác nhau có hệ số K1, K2 khác nhau và các hệ số này được xác định thông qua quá trình nghiên cứu thực nghiệm [105]. Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, khái niệm về khả năng tự làm sạch của dòng sông được đề cập thường xuyên hơn trong các tài liệu nghiên cứu.
Một số công trình nghiên cứu về khả năng tự làm sạch của dòng sông được thực hiện với công cụ sử dụng chính để đánh giá khả năng tự làm sạch của dòng sông là các mô hình toán như: MIKE, BASINS, SWAT, QUAL2 (QUAL2EU, QUAL2K), WASP7… [9], [12], [17], [25]. Khái niệm về khả năng tự làm sạch của dòng sông Khả năng tự làm sạch của dòng sông được các tác giả khác nhau định nghĩa khác nhau. Lee và Shun Dar Lin (2007) [56] cho rằng khả năng tự làm sạch của dòng sông là khả năng loại bỏ, giảm thiểu các chất ô nhiễm thông qua các quá trình biến đổi vật lý, hóa học, sinh học xảy ra trong dòng chảy. Khả năng tự làm sạch dòng sông đóng vai trò hết sức quan trọng trong giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ chất lượng nước sông.
- Penrug Phangsombut (2005) [92] cho rằng quá trình tự làm sạch của dòng sông là quá trình phân hủy tự nhiên các chất ô nhiễm hữu cơ bởi vi khuẩn để phục hồi lại chất lượng nước. Quá trình tự làm sạch của dòng sông là quá trình biến đổi vật lý, hóa học và sinh học xảy ra trong môi trường nước, nhờ đó mà hệ sinh thái được phục hồi. - Benoit (1971) [51] cho rằng tự làm sạch của dòng sông là như sự phục hồi của dòng chảy bởi các quá trình tự nhiên khi bị ô nhiễm. Từ các khái niệm ở trên cho thấy quá trình tự làm sạch của dòng sông là tập hợp các quá trình tự nhiên trong dòng chảy sông làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm hướng tới phục hồi trạng thái ban đầu của dòng sông.
Cơ chế của quá trình tự làm sạch dòng sông Cơ chế tự làm sạch của dòng sông thông qua các quá trình khác nhau như: Quá trình vật lý, quá trình hóa học và quá trình sinh học [19]. * Các quá trình vật lý: - Sự pha loãng nồng độ chất ô nhiễm: Chất ô nhiễm được pha loãng nồng độ nhờ các quá trình khuếch tán, đối lưu, chảy rối xảy ra trong môi trường nước. 6 Nhờ các quá trình này, chất ô nhiễm được vận chuyển xa nguồn thải và đồng thời giảm nồng độ so với ban đầu trong dòng thải. - Sự hấp phụ của chất ô nhiễm lên bề mặt hạt rắn: Một số chất ô nhiễm, đặc biệt là các chất hữu cơ gây mùi, có khả năng hấp phụ vào các hạt rắn lơ lửng và bị kéo xuống đáy sông trong quá trình lắng đọng của các hạt rắn.
- Sự lắng đọng của các hạt rắn lơ lửng: Trong quá trình vận chuyển, phân tán trong môi trường nước, các hạt rắn lơ lửng lắng dần xuống đáy sông dưới tác dụng của trọng lực. Nhờ đó, hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước sông giảm đi. - Sự bay hơi: Một số chất ô nhiễm dễ bay hơi sẽ bay hơi vào không khí làm cho nồng độ của chúng trong nước giảm dần. * Các quá trình hóa học: Quá trình trung hòa, keo tụ, kết tủa, ôxy hóa khử, hấp thụ, trao đổi ion… * Các quá trình sinh học: - Sự phân hủy của vi sinh vật: Vi sinh vật được xem là nhân tố chính của quá trình tự làm sạch nước tự nhiên.
Chúng phân hủy và sử dụng các chất hữu cơ hòa tan để xây dựng tế bào cho cơ thể và biến thành các chất vô cơ trong nước. + Phân hủy hiếu khí: Các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học sẽ bị ôxy hóa nhờ hoạt động của các vi sinh vật hiếu khí trong môi trường nước với sự có mặt của ôxy, tạo thành CO2 và nước. + Phân hủy kỵ khí: Nhờ hoạt động của các vi sinh vật kỵ khí, các chất hữu cơ bị chuyển hóa trong quá trình lên men tạo thành CO2 và một số khí khác như: CH4, NH3, H2S. - Sự quang hợp của thực vật nước: Các thực vật nước (tảo, cỏ dại, lục bình…) sử dụng các nguyên tố dinh dưỡng tồn tại dưới dạng các chất ô nhiễm hữu cơ hoặc vô cơ để phát triển.
Đồng thời, quá trình quang hợp của chúng sẽ sản sinh ra ôxy cho quá trình ôxy hóa các chất ô nhiễm. Nhờ đó nồng độ của các chất ô nhiễm giảm đi. Trong nước có nhiều loại vi sinh vật như: Vi khuẩn, nấm mốc, nấm men, xạ khuẩn, vi rút (siêu vi khuẩn). Trong những loại này, vi khuẩn đóng vai trò quan trọng hay chủ đạo trong quá trình phân hủy chất hữu cơ, làm sạch nguồn nước sông [8].
Vi khuẩn là vi sinh vật đơn bào, kích thước rất nhỏ từ 0,3-5 m; có dạng hình cầu, hình que, hình sợi xoắn. Chúng đứng riêng rẽ hoặc xếp thành đôi, thành 4 tế bào hoặc hình thành khối với 8 tế bào, xếp thành chuỗi hoặc thành chùm. Vi khuẩn sinh sản bằng cách chia đôi tế bào. Theo phương thức dinh dưỡng, vi khuẩn được chia làm 2 nhóm: Vi khuẩn dị dưỡng và vi khuẩn tự dưỡng [8].
7 * Vi khuẩn dị dưỡng: Nhóm vi khuẩn này sử dụng các chất hữu cơ làm nguồn cacbon dinh dưỡng và nguồn năng lượng để hoạt động sống, xây dựng tế bào, phát triển… Có 3 loại vi khuẩn dị dưỡng: - Vi khuẩn hiếu khí: Cần ôxy để sống, ôxy cung cấp cho quá trình ôxy hóa các chất hữu cơ theo phản ứng: Chất hữu cơ + O2 → CO2 + H2O + Năng lượng - Vi khuẩn kỵ khí: Sống và hoạt động ở điều kiện kỵ khí (không cần ôxy của không khí), sử dụng ôxy trong những hợp chất nitrat, sulphat để ôxy hóa các chất hữu cơ; quá trình phân hủy các chất hữu cơ theo phản ứng: Chất hữu cơ + NO3- → CO2 + N2 + Năng lượng Chất hữu cơ + SO42- → CO2 + H2S + Năng lượng Chất hữu cơ → Axít hữu cơ + CO2 + H2O + Năng lượng Chất hữu cơ → CH4 + CO2 + Năng lượng - Vi khuẩn tùy nghi: Có thể sống trong điều kiện có hoặc không có ôxy tự do; năng lượng được giải phóng một phần được sử dụng cho việc sinh tổng hợp hình thành tế bào mới, một phần thoát ra ở dạng nhiệt. * Vi khuẩn tự dưỡng: Có khả năng ôxy hóa chất vô cơ để thu năng lượng và sử dụng CO2 làm nguồn cacbon cho quá trình sinh tổng hợp. Trong nhóm này có vi khuẩn nitrat hóa.