Đánh giá ô nhiễm PAHs trong bụi đô thị và ảnh hưởng độc tính đến thụ thể AHR

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ô nhiễm PAHs trong bụi đô thị và tác động độc tính lên thụ thể AHR, cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường.

Trường đại học

Đại học Xây dựng Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

199
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các hợp chất gây kích thích thụ thể thuộc nhóm hydrocacbon thơm đa vòng

1.2. Nguồn phát thải PAHs vào khí quyển. Nồng độ PAHs trong không khí

1.3. Tiêu chuẩn PAHs trong không khí

1.4. Nghiên cứu và xác định sự có mặt của PAHs trong bụi. Tác động của bụi đối với sức khỏe con người. Nghiên cứu và xác định một số PAHs có trong bụi. Nguy cơ ảnh hưởng của PAHs đối với môi trường và sức khỏe con người

1.5. Thử nghiệm sinh học xác định độc tính của một số hợp chất gây kích thích thụ thể thuộc nhóm PAHs

1.6. Đánh giá độc tính tương đương BaP của một số hợp chất PAHs. Đánh giá rủi ro gây đột biến gen và ung thư bởi một số hợp chất PAHs trong bụi đối với sức khỏe con người. Kết luận của Chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quát các nội dung cần thực hiện. Sơ đồ khung nghiên cứu của luận án

2.2. Các nội dung cần giải quyết

2.3. Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu. Phương pháp phân tích hóa học xác định một số hợp chất gây kích thích thụ thể AhR thuộc nhóm PAHs. Phương pháp PAH-CALUX xác định độc tính tác động lên thụ thể trong mẫu phân tích

2.5. Phương pháp xác định độc tính tương đương BaP của một số PAHs gây kích thích thụ thể

2.6. Phương pháp xác định nguy cơ gây đột biến gen và ung thư. Phương pháp xác định rủi ro gây ung thư theo thời gian sống. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tình trạng ô nhiễm bụi mịn tại khu vực nghiên cứu. Đánh giá sự phân bố và nguồn phát thải của 16 PAHs gây kích thích thụ thể có trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP

3.2. Đánh giá nguồn phát thải của 16 PAHs có trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP

3.3. Đánh giá tác động độc tính của 16 PAHs gây kích thích thụ thể có trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP

3.4. Đánh giá độc tính tương đương BaP và sự đóng góp của 16 PAHs gây kích thích thụ thể trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP

3.5. Đánh giá khả năng gây đột biến gen và gây ung thư của 16 PAHs

3.6. Đánh giá nguy cơ gây ung thư của 16 PAHs gây kích thích thụ thể trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP. Đánh giá rủi ro gây ung thư theo thời gian sống của 16 PAHs có trong bụi mịn PM2.5, bụi thô PM5-10 và bụi tổng số TSP

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ô nhiễm PAHs

Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm bụi đô thị, đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong những năm gần đây. Các hợp chất hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs) là một trong những chất ô nhiễm chính có mặt trong bụi. Chúng được sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải và các hoạt động đốt cháy. Nghiên cứu cho thấy rằng PAHs có khả năng gây ra nhiều tác động độc tính nghiêm trọng lên sức khỏe con người, đặc biệt là thông qua việc kích thích thụ thể AHR. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng PAHs có thể gây ra các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư và các rối loạn sinh lý khác. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá hiện trạng ô nhiễm PAHs trong bụi đô thị là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Nguồn gốc và sự phát thải của PAHs

Các nguồn phát thải PAHs vào không khí chủ yếu đến từ các hoạt động công nghiệp, giao thông và các quá trình đốt cháy nhiên liệu. Nồng độ PAHs trong không khí có thể thay đổi tùy thuộc vào vị trí địa lý và thời gian. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ PAHs trong bụi mịn PM2.5 thường cao hơn so với bụi thô PM10. Điều này cho thấy rằng bụi mịn có khả năng tích tụ nhiều chất ô nhiễm hơn, từ đó làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các hợp chất độc hại. Việc xác định nguồn phát thải và nồng độ PAHs trong không khí là rất quan trọng để đưa ra các biện pháp kiểm soát ô nhiễm hiệu quả.

II. Tác động độc tính của PAHs lên thụ thể AHR

Thụ thể AHR đóng vai trò quan trọng trong việc phản ứng với các hợp chất độc hại, bao gồm PAHs. Khi PAHs xâm nhập vào cơ thể, chúng có thể gắn kết với thụ thể AHR, kích hoạt các phản ứng sinh học dẫn đến các tác động độc tính. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự kích hoạt thụ thể AHR có thể dẫn đến sự ức chế miễn dịch, rối loạn nội tiết và tăng nguy cơ ung thư. Đặc biệt, một số PAHs như benzo[a]pyrene (BaP) được biết đến là có khả năng gây ung thư cao. Việc đánh giá độc tính của PAHs thông qua thụ thể AHR là cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của chúng đối với sức khỏe con người.

2.1. Cơ chế tác động của PAHs

Khi PAHs gắn kết với thụ thể AHR, chúng kích hoạt một loạt các phản ứng sinh học trong tế bào. Quá trình này dẫn đến sự biểu hiện của các gen liên quan đến chuyển hóa chất độc, từ đó làm tăng khả năng gây tổn thương tế bào. Nghiên cứu cho thấy rằng sự kích hoạt thụ thể AHR có thể dẫn đến sự gia tăng sản xuất các chất gây viêm, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan đến viêm nhiễm và ung thư. Do đó, việc nghiên cứu cơ chế tác động của PAHs thông qua thụ thể AHR là rất quan trọng để phát triển các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.

III. Đánh giá rủi ro và tác động đến sức khỏe con người

Đánh giá rủi ro từ PAHs trong bụi đô thị là một phần quan trọng trong nghiên cứu ô nhiễm môi trường. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc lâu dài với bụi có chứa PAHs có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh hô hấp. Việc xác định nồng độ PAHs trong bụi mịn PM2.5 và bụi thô PM10 là cần thiết để đánh giá mức độ rủi ro cho sức khỏe con người. Các phương pháp đánh giá rủi ro cần được áp dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của PAHs đến sức khỏe cộng đồng, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1. Phân tích rủi ro sức khỏe

Phân tích rủi ro sức khỏe từ PAHs bao gồm việc xác định nồng độ của các hợp chất này trong bụi và đánh giá khả năng gây ung thư. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ PAHs cao trong bụi mịn PM2.5 có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng. Việc sử dụng các mô hình đánh giá rủi ro giúp xác định mức độ ảnh hưởng của PAHs đến sức khỏe con người, từ đó đưa ra các khuyến nghị về quản lý chất lượng không khí và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1- TONG QUAN 1. Các hop chất gây kích thích thụ thể thuộc nhóm hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs) PAHs bao gồm hàng trăm hop chất có hai hoặc nhiều vòng thơm kết hợp với nhau. Cho đến nay đã có rat nhiều nghiên cứu về độc tính của PAHs và tinh trạng ô nhiễm PAHs trong không khí, có khả năng gây ung thư hoặc gây đột biến gen cao. Trong số đó có 16 PAHs có cấu trúc điển hình được quan tâm nhiều nhất và đã được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US-EPA) đưa vào danh mục để đánh giá rủi ro đối với sức khỏe À con người bao gồm : naphthalene (Nap), acenaphthylene (Acy), acenaphthene (Ace), fluorene (Flu), phenanthrene (Phe), anthracene (Ant), fluoranthene (Fluh), pyrene (Pyr), benz[a]anthracene (BaA), chrysene (Chy), benzo[b] fluoranthene (BbF), benzo[k] fluoranthene (BkF), benzo[a]pyrene (BaP), indeno[1,2,3-c,d]pyrene (IDP), dibenz[a,h]anthracene (DBA), benzo[g,h,i]perylene (BgP).

Trong đó BaP thường được sử dụng làm chất chỉ thị cho mức độ phơi nhiễm của các PAHs gây ung thư, vì đóng góp cao của BaP so với tổng tiểm năng gây ung thư, khoảng 51-64% [137]. Các hop chất PAHs trọng lượng phân tử thấp tổn tại trong khí quyển chủ yếu ở pha hơi (thường từ 2 đến 3 vòng thơm) và trên hạt bụi (từ năm vòng thơm 17 trở lên), còn PAHs có bốn vòng thơm, phụ thuộc vào nhiệt độ khí quyển được phân chia giữa hai pha hày [162]. PAHs liên kết với hạt bụi được coi là rất nguy hiểm đối với sức khỏe con người. Hầu hết các PAHs có thể gây ung thư ở người được phát hiện có liên quan đến các hạt bụi, đặc biệt là các hạt bụi min trong không khí.

Nhiều quốc gia đã dé xuất giới hạn nồng độ đối với PAHs trong không khí, trong khi các nghiên cứu về phơi nhiễm PAHs liên quan sức khỏe cũng khuyến nghị các chất ô nhiễm này nên được ưu tiên trong quản lý chất lượng không khí và đánh giá tác động đến sức khỏe con người. PAHs có nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy cao. Ở điều kiện thường, chúng tổn tại ở dạng rắn không màu, màu trắng, hoặc vàng nhạt [165]. Các hợp chất PAHs có độ hòa tan thấp trong nước nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ và ưa chất béo.

Công thức cấu tạo và một số tính chất vật lý của 16 PAHs điển hình [154] theo Bảng 1. Tính chất vật lý của một số hợp chất PAHs 18 Khối Nhiệt đô Hòa tan iét độ say TA ‹ k TT Tên Cấu t lượng nóng cha Nhiệt độ | Apsuat | trong (viết tắt) 2u bạo phân %G y sôi “C) | (mmHg) nước L tử CO) | (mg/l Acenaphthene 3 1 ‘oe 154 | 95 96 | 447.10 11 g |Pyrene woe, 202 | 156 | 393-404) 2/5105 | 0,132 (Pyr) — y l4 Benz[a]anthracene mm 6 9 (BaA) PAL | 228 | 158 438 2,5.107! | 0,008 Tê lên k tưng Nhiệt độ | nhiệt độ Áp suất ‘tone, ượng |. hả et độ p suâ r TT (viết tắt) Cầutạo | phan moc *Y) soiC) | (mmHg) | nước tr | 6° (mg/) Benzo[ghi]perylene ~~ -10 0,00026 12 (BeP) asC3 | 27 6 273 550 1,03.10 0,0015 Dibenz[a,h]anthracene ®` -10 l5 (DBA) vs“ QO-O| 278 | 2 - 1.10 0,0005 Indeno[1,2,3-cd]pyrene 6X) 10 xa-l6 1 6 qpP) ‘eae ry 2 76 | 1 163,6 530 10° -- 10 0,062 PAHs có cấu trúc rất đa dang va duoc phân thành 19 hai nhóm, nhóm mạch thẳng hoặc rẽ nhánh và nhóm dạng tổ ong khi nỗi các tâm benzen với nhau. Nói chung, các PAHs mạch thẳng, như Ant, Nap phân huỷ nhanh chóng dưới ánh sáng trực tiếp.

Các PAHs dạng rẽ nhánh hoặc dạng tổ ong là chất phân hủy chậm hơn hoặc ít bị phân hủy, đây là những phân tử có cấu trúc ổn định nhất [94]. Do được cấu tạo từ những vòng thơm nên tính chất hóa học của PAHs cũng giống như của hydrocacbon thơm là có thể tham gia phản ứng thế và phản ứng cộng. Ngoài ra, PAHs cũng tham gia phản ứng quang hóa trong không khí, đây là phản ứng quan trọng trong việc phân hủy PAHs có trong khí quyễn. Đặc tính quang của các hợp chất gây kích thích thụ thể thuộc nhóm PAHs Ánh sáng mặt trời có thành phần chính là hon 90% ánh sáng nhìn thấy có bước sóng từ 400-700nm, khoảng 10% là tia cực tim (UV) và các tia khác [31].

PAHs có phổ hấp thụ tia cực tím rất đặc trưng, mỗi cấu trúc vòng có một phổ UV duy nhất, do đó mỗi đồng phân có một phổ hap thu UV khác nhau. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc xác định PAHs. Hầu hết các PAH cũng là chất huỳnh quang, phát ra các bước sóng ánh sáng đặc trưng khi chúng bị kích thích như khi hấp thụ ánh sáng. Các PAHs có thể hấp thụ tia cực tím có bước sóng từ 320-400nm và ánh sáng nhìn thấy.

Do đó kích thích electron trong phân tử tạo ra 20 sự sắp xếp cầu trúc không 6n định của PAHs, từ đó hình thành các hợp chất trung gian khi bị kích thích bởi 6 xy hoặc các phân tử khác xảy ra trong tế bào. Các chất trung gian này có thể gây hại cho các thành phần của tế bào như màng tế bào, axit nucleic hoặc protein. Da người khi bị nhiễm PAH có tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thì có thể gây ra sự phân cắt sợi đơn DNA, quá trình oxy hóa các gốc DNA và hình thành các cộng hóa trị DNA [193]. Độc tính gen và khả năng gây ung thư của các hợp chất gây kích thích thụ thể thuộc nhóm PAHs Khi các PAHs vao cơ thé, chúng được giải độc qua gan thông qua phan ứng xúc tác của cytochrom P450 và nhiềm ezym oxidase bằng cách tạo ra các liên hợp epoxit glutathione hòa tan trong nước.

Tuy nhiên, sự chuyển hóa của một số PAH cũng tạo ra các chất trung gian phản ứng như diolepoxit, quinon và các dẫn xuất hydroxyalkyl, không đủ phân cực để bài tiết, chúng liên kết cộng hóa trị với axit nucleic va dẫn đến gây độc gen [10]. Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã phân loại PAHs thành 4 nhóm, nhóm 1 là chất gây ung thư, nhóm 2A có thê gây ung thư, nhóm 2B có khả năng gây ung thư cho người và nhóm 3 là chưa phân loại là chất gây ung thư đối với con người. Trong các hợp chất PAHs thì BaP được coi là một trong những PAHs gây ung thư lớn nhất và thường được sử dụng làm chất đánh dau phơi nhiễm dé đánh giá rủi ro. Một số cơ quan trong cơ thé dé bị hình thành khối u do tiếp xúc lâu đài với PAHs như phổi, da, thực quản, ruột kết, tuyến tụy, bảng quang và vú của phụ nữ [152].1 Nguồn phát thải PAHs vào khí quyển Các hợp chất PAHs phát thải vào môi trường không khí chủ yếu là từ các hiện tượng tự nhiên như núi lửa, cháy rừng hoặc các hoạt động của con người như đốt sinh khối, sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Ngoài ra PAHs còn có thể phát thải từ đất và nước, do PAHs xâm nhập thông qua các hoạt động tu các nha máy công nghiệp, nhà máy xử lý nước thải, các khu vực có chứa chất thải nguy hại, sau đó khuếch tán vào không khí. Sự khuếch tán của PAHs trong môi trường phụ thuộc vào mức độ hòa tan trong nước và mức độ bay hơi trong không khí. Nguồn gây 6 nhiễm PAHs thể hiện trên Hình 1.1, được chia thành hai loại chính là các nguồn phát thải do con người và các nguồn phát thải tự nhiên. Do đốt cháy c=—=—=—=—————————————————— | a A h _.»! Động cơ dst | a khong | trong a c=========a , Thiêu hủy _ +8 _,| Đám cháy tu! | Đốt sinh khối c 1%! nhiên | | Các quá trình, S + | Phun trào - múi | _céna nghiên 6 SG - = = Dau mo tu nhién =Ị Zz Thối rữa thực Thuốc trừ sâu 5 vật Bùn thải CS) L — Nguồn phát thải M.

Các nguồn phát thải PAHs vào môi trường 22 Các nguồn phát thai tự nhiên chủ yếu do cháy rừng [36, 187] và núi lửa [93], một số PAHs phát thải từ tự nhiên rất độc hại và bền vững trong môi trường từ các sản phẩm dầu mỏ tự nhiên, quá trình thối rữa hoặc tổng hợp từ thực vật. Nguồn phát thải PAHs do hoạt động của con người chủ yếu từ đốt nhiên liệu hóa thạch, khí thải từ giao thông [15], đốt sinh khối [52, 139], rác thải [51] và khói thuốc lá [17]. Hai ng6n phát thải PAHs này kết hợp với nhau di chuyên trong không khí và phát tán lên bầu khí quyên di chuyển khắp nơi trên trái đất. Chúng là những chất gây ô nhiễm khá bền vững phân bố rộng.

Hệ số phát thải của PAHs được tính toán dựa trên các phép đo thực tế [159].2 nêu lên hệ số phát thai PAHs của một số loại nhiên liệu và thiết bị. Hệ số phát thải PAHs một số thiết bị sử nhiên liệu STT Loại nhiên Hệ số phát Loại lò đốt Trích liệu thải /động cơ dẫn (mg/kg) I. Gỗ 110 Bếp củi [87] 2. Vỏ trấu 0,0015- Đốt hở [109] 1,782 3.

Rom da 11,54- Đốt hở [116] 35,69 4. Rơm dạ 63 Đốt trong [158, nhà 160] 5. Than cốc 4,05 Luyén sat, [194] thép Than cui 24 Than banh [87] 7. Xang 4,3 Động cơ [116] xăng 8.

Dau diesel 2,4 Động co dau [116] 23 STT Loại nhiên Hệ số phát Loại lò đốt Trích liệu thải /động co dẫn (mg/kg) 9, Dầu diesel 0,5 Tàu biển [154] 10. Than đá 230 Bếp gia [116] đình I1. Than 58,48- Bếp gia [57] antraxIt 129,47 đình 12. Than bánh 102 Bếp than hở [87] Ngoài hai nguồn phát thải chính bên trên, PAHs còn phát thải thông qua một số sản phẩm thương mại khác.

Do chúng được sử dụng làm chất trung gian trong dược phẩm, nông sản, sản phẩm nhiếp ảnh, chất đẻo, vật liệu bôi trơn và các ngành công nghiệp hóa chất khác như: — Acenaphthene: sản xuat chat mau, thuốc nhuộm, chất đẻo, thuốc trừ sâu và dược phẩm; — Anthracene: dung dịch pha loãng cho chất bao quản gỗ và sản xuất thuốc nhuộm và chất màu; — Phenanthrene: sản xuất nhựa và thuốc trừ sâu; — Pyrene: sản xuât chat mau. Theo mô hình PKU-FUEL-2007, mô phỏng lượng phát thải PAHs vào không khí năm 2007, cho thấy đốt sinh khối thương mại và sinh hoạt chiếm 60,5%, đốt sinh khối ngoài đồng, phá rừng và cháy rừng chiếm 13,6% và phương tiện giao thông là 12,8%. Kết quả cũng cho thấy khu vực phía Nam, phía Đông và Đông Nam Á là những khu vực có mật độ phát thải PAHs cao nhất, đóng góp 50% tổng lượng phát thải PAHs trên toàn cau [159]. 24 Với diện tích lớn thứ tư và dân số đứng thứ nhất trên thé giới, Trung Quốc là quốc gia phát thải PAHs lớn nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ô nhiễm PAHs trong bụi đô thị và tác động độc tính lên thụ thể AHR" cung cấp cái nhìn sâu sắc về ô nhiễm polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) trong môi trường đô thị và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người thông qua thụ thể AHR. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra nguồn gốc và mức độ ô nhiễm PAHs mà còn phân tích tác động độc tính của chúng, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát chất lượng không khí trong các khu vực đô thị. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về các biện pháp cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường ứng dụng hệ thống phát hiện và định lượng tự động với cơ sở dữ liệu gcms nhằm phân tích đồng thời các hợp chất sterols và phthalate trong bụi không khí tại hà nội", nơi phân tích các hợp chất khác trong bụi không khí. Ngoài ra, bài viết "Luận văn đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn phường thịnh đán thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên" cũng sẽ cung cấp thông tin về chất lượng nước sinh hoạt, một yếu tố quan trọng trong sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý", để hiểu rõ hơn về ô nhiễm hóa chất trong môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.