CHƯƠNG 1: Giới thiệu 1. Lý do chọn đề tài Hai vấn đề chính trong bài viết này là rủi ro đạo đức và nợ xấu. Bài viết muốn nêu hai vấn đề lớn này trong ngành Ngân hàng Việt Nam. Vấn đề đầu tiên là nợ xấu.
Nợ xấu một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong việc quản lý ngành Ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng thương mại là trung gian tài chính, hoạt động chính các ngân hàng huy động vốn thông qua tiền gửi của khách hàng và cho vay. Ngân hàng TM kinh doanh bằng cách cho vay những tài nguyên từ người gửi tiền cho những người muốn vay với lãi suất với kỳ vọng rằng tiền sẽ được trả lại đúng hạn. Các khách hàng khi gởi tiền của họ vào các ngân hàng, họ có mong muốn nhận lại khoản đầu tư của mình cộng với tiền lãi vào thời điểm thích hợp theo thỏa thuận với nhân viên ngân hàng.
Nếu người đi vay sau đó không trả lại số tiền họ đã vay, các khoản nợ này trở thành nợ xấu. Các khoản nợ xấu làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng; gây giảm lợi nhuận; và thậm chí có thể làm suy yếu sự tồn tại và bền vững của ngân hàng. Do đó, ngân hàng buộc phải tốn chi phí quản lý nợ xấu có nghĩa ngân hàng là phải chịu chi phí hoạt động gây ra. Ngân hàng muốn tiếp tục hoạt động phải tái cấp vốn cao hơn quy định của chính phủ.
Một ngân hàng có thể được cơ quan chính phủ quản lý nếu Tỷ lệ vốn chủ sở hữu dưới mức tối thiểu theo quy định. (KPMG 2018) Khi có quá nhiều nợ xấu, ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu của tất cả những người gửi tiền đúng hạn. Rõ ràng nợ xấu sẽ làm suy yếu khả năng của ngân hàng trong vấn đề đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền. Điều này có thể gây ra nhiều vấn đề trong hệ thống ngân hàng đôi khi dẫn đến việc rút tiền ồ ạt trong hoảng loạn.
Ngân hàng rơi vào tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh toán. (Sanderson Abel 2014) Nợ xấu trong ngành Ngân hàng Việt Nam bắt đầu có xu hướng tăng từ năm 2007 trong bối cảnh các ngân hàng tín dụng tăng trưởng cao trong khi chất lượng của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 khoản tín dụng và công tác quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại xấu. (Lê Thị Thùy Vân (2017) Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) Nợ xấu tại các NHTM Việt Nam không phải mới phát sinh trong những năm gần đây, mà thực chất đã tích tụ từ nhiều năm trước. Khi tình hình kinh tế vĩ mô xấu đi, hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ, thì cũng là lúc nợ xấu nảy nở như nấm sau mưa.
Nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007 và được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011 đến nay. Biều đồ: Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng TM VN giai đoạn 2007 – 2016.( Đơn vị: %)(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước) Tốc độ tăng trưởng nợ xấu lên tới mức cao 5,1% trong giai đoạn 2008 -2011, gấp hai lần tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của cùng giai đoạn. Nợ xấu gia tăng giá trị lên đến 85.000 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ và tiếp tục tăng lên 4,86% tổng dư nợ vào cuối năm 2012. Sau đó vào 2016 nợ xấu khi giảm về mức 2,46% và ở mức 2,56% vào cuối tháng 2/2017.
(Lê Thị Thùy Vân (2017) Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.00% 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Biều đồ Thống kê của World Bank về Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng TM VN trong giai đoạn 2008– 2017. (Nguồn: World Bank) Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nợ xấu là dấu hiệu cho những vấn đề bất ổn tương lai của các ngân hàng và cho rằng mức độ nợ xấu cao các ngân hàng gây nên sụp đổ của các ngân hàng. Sự sụp đổ của một ngân hàng thường được coi là có tầm quan trọng hơn sự sụp đổ của các loại hình doanh nghiệp khác vì sự liên kết và mong manh của các tổ chức ngân hàng. Khi một ngân hàng mất tính thanh khoản hoặc tệ hơn là sụp đổ.
Người gửi tiền mất niềm tin vào ngân hàng, người gửi tiền cố gắng rút tiền gửi từ các ngân hàng toàn nền kinh tế này để tránh bị mất tiền, khi làm như vậy gây ra mất tính thanh khoản trên toàn ngành ngân hàng. Các ngân hàng thường có hợp đồng với nhau một khi một ngân hàng mất tính thanh khoản các hợp đồng tới hạn không được thanh toán gây ra các khoản thiệt hại cho các ngân hàng đối tác. Do đó, hiệu ứng lây lan hoảng loạn ngân hàng hoặc rủi ro hệ thống có tác động cấp số nhân lên tất cả các ngân hàng và tổ chức tài chính dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Các tổ chức ngân hàng thường phải chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt và sụp đổ của các ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu chính sách công ở các quốc gia trên thế giới.
(Kaufman 1996) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Sự sụp đổ của một ngân hàng không chỉ liên quan đến quốc gia mà ngân hàng đó có trụ sở, mà còn đối với tất cả các quốc gia khác mà ngân hàng đó tiến hành kinh doanh. Việc này đã diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, trong đó những sụp đổ của các ngân hàng đầu tư lớn đang gây ra hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế trên toàn thị trường toàn cầu. Với mức độ cao mà các thị trường được tích hợp trong nền kinh tế toàn cầu làm cho điều này gần như không thể tránh khỏi. Ví dụ các ngân hàng lớn như Lehman Brothers và Bear Stearns sụp đổ, lần lượt các chi nhánh từ các quốc gia khác ngoài Hoa Kỳ phải chịu đựng.
(Brewer và công sự (2002)) Vấn đề thứ 2 là rủi ro đạo đức. Rủi ro đạo đức tồn tại khi một người hoặc thực thể có hành vi tham gia vào chấp nhận rủi ro để có các kết quả mong đợi trong đó một người hoặc thực thể khác phải chịu chi phí trong trường hợp có kết quả không thuận lợi. Một loạt các hành động của ngân hàng thương mại được coi là rủi ro đạo đức: Giả định “quá lớn để sụp đổ” (“too big to fail”): Có một số ngân hàng TM rất quan trọng đối với nền kinh tế, khi các ngân hàng này sụp đổ của các chủ sở hữu và nhà quản lý chịu rất ít hậu quả nhưng sự sụp đổ của các ngân hàng này gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Với giả định này, các bên liên quan trọng các tổ chức tài chính đã phải đối mặt với một loạt các kết quả mà họ sẽ không chịu toàn bộ chi phí cho các rủi ro mà họ đang gặp phải vào thời điểm đó.
Rủi ro đạo đức này góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008 là tài sản thế chấp. Trong trường hợp bình thường, các ngân hàng cho vay tiền sau được khi phân tích chu đáo và nghiêm ngặt. Fannie Mae và Freddie Mac là các tập đoàn được chính phủ bảo trợ cung cấp hỗ trợ ngầm cho những người cho vay bảo lãnh cho vay bất động sản tạo ra tính thanh khoản. Tuy nhiên, do tính thanh khoản được cung cấp cho thị trường của hai tập đoàn này, người cho vay có thể nới lỏng các tiêu chuẩn của họ.
Những đảm bảo của cơ quan này với tính thanh khoản đã ảnh hưởng đến những người cho vay đưa ra quyết định rủi ro vì họ hy vọng các tổ chức chính phủ gần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 như chịu chi phí cho một kết quả bất lợi trong trường hợp vỡ nợ. Người cho vay đưa ra quyết định cho vay rủi ro theo giả định rằng họ có thể sẽ tránh được việc giữ khoản nợ trong suốt thời gian đáo hạn. Các ngân hàng đã được cung cấp cơ hội để giảm một khoản nợ xấu, kèm theo các khoản vay tốt, trong một thị trường thứ cấp thông qua các khoản vay thế chấp, do đó chuyển rủi ro vỡ nợ cho người mua. Về cơ bản, các ngân hàng được bảo lãnh cho các khoản vay với kỳ vọng rằng một bên khác sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm và rủi ro vỡ nợ, tạo ra một rủi ro đạo đức và cuối cùng góp phần vào cuộc khủng hoảng thế chấp.
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nghiêm trọng hơn các vụ khủng hoảng trước đó, cả vụ sụp đổ dot-com năm 2001 và vụ sụp đổ thị trường năm 1987 và chỉ sau cuộc Đại khủng hoảng năm 1929. Mức độ nghiêm trọng này là do đặt cược đầu cơ rủi ro quá mức được thực hiện bởi các giám đốc điều hành của các tổ chức tài chính. Một vấn đề khác về rủi ro đạo đức đó là hệ thống lương-thưởng của các giám đốc điều hành. Những giám đốc điều hành thường nhận được mức lương cố định cơ bản và tiền thưởng lớn bằng tiền mặt gắn liền với lợi nhuận ngắn hạn.
Nhà quản lý nhận được những phần thưởng lớn trong thời gian thành công và gần như bằng không khi lợi nhuận kém. Điều này tạo ra một động cơ đối với các rủi ro: chiến thắng khi đặt cược rủi ro dẫn đến tiền thưởng lớn bằng tiền mặt, trong khi thua không dẫn đến thua lỗ. Giám đốc điều hành của các tổ chức tài chính thúc đẩy cuộc đặt cược này và do đó các giám đốc điều hành đưa ra các khoản vay rủi ro lớn hơn để ngân hàng có lợi nhuận tăng lên và nhận được tiền thưởng đáng kể. (Zhang 2016) Trong hầu hết các trường hợp, đặt cược thắng một năm là đủ để đảm bảo nghỉ hưu an toàn cho các nhà quản lý.
Trong kịch bản này, nhà quản lý chẳng thèm quan tâm gì đến hiệu quả kinh tế của tổ chức tài chính trong năm tới và sau đó dẫn đến lượng nợ xấu lớn và thua lỗ nặng nề các tổ chức tài chính. Chi phí đặt cược rủi ro này các nhà điều hành ngân hàng không phải gánh chịu, nó được gánh chịu bởi các cổ đông và nền kinh tế. (Jensen và Meckling (1976)) Ngoài ra nợ xấu tăng lên cao có thể gây ra các vấn đề rủi ro đạo đức. Khi nghiên cứu các ngân hàng ở Mỹ, Koudstaal và Wijnbergen (2012) thấy rằng danh mục cho vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 không tốt, nợ xấu tăng cao, thì gây ra việc rủi ro mà các ngân hàng chấp nhận càng lớn.