Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình ngộ độc trên thế giới và trong nước 1. Tình hình ngộ độc thực phẩm trên thế giới Xu hướng ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm xẩy ra ở quy mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến, việc phòng ngừa và xử lý vấn đề này càng ngày càng khó khăn với mỗi quốc gia trở thành một thách thức lớn của toàn nhân loại. Đã có hàng loạt các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm xẩy ra trong thời gian gần đây.
Theo Lê Vân (2015) [59], mối đe dọa từ các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm do vi khuẩn gây nên khiến người tiêu dùng trên toàn thế giới không khỏi hoang mang. Cụ thể: 582 triệu ca mắc phải một trong 22 căn bệnh truyền qua thực phẩm; 351.000 ca tử vong có liên quan đến an toàn thực phẩm; 52.000 ca tử vong do vi khuẩn Salmonella gây nên; 37.000 ca tử vong do vi khuẩn E.000 người chết do norovirus (loại virus là nguyên nhân hàng đầu gây nên dịch bệnh từ thực phẩm bị ô nhiễm tại Hoa Kỳ); 40% là tỷ lệ người ở độ tuổi dưới 5 mắc các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) [444], hàng năm ở Mỹ có khoảng 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm, trong đó có 325.000 trường hợp phải nhập viện và 5.000 ca tử vong và vi khuẩn Salmonella được cho là một trong những nguyên nhân hàng đầu được xác nhận bởi các phân tích trong phòng thí nghiệm. Năm 2003 tại Bỉ có tới 12.849 trường hợp ngộ độc do vi khuẩn Salmonella và 6.566 trường hợp nhiễm vi khuẩn Campylobacter và một số vi khuẩn khác mà nguyên nhân chủ yếu là do chế biến thực phẩm chưa kỹ trong đó thịt nhiễm bẩn chiếm tới 20%.
Tại Mỹ đã có trên 1.000 người ngã bệnh vì vi khuẩn Salmonella, được xem là con số lớn nhất trong vòng 10 năm qua tại Hoa Kỳ vì ngộ độc thực phẩm (Tô Liên Thu, 2005) [31]. Theo Đậu Ngọc Hào (2013) [15], trong 9 tháng đầu năm 2006, hơn 330 người ở Thượng Hải được báo cáo đã bị ngộ độc thực phẩm do ăn thịt lợn bị ô 4 nhiễm clenbuterol từ động vật nuôi để lấy thịt nạc. Trong tháng 2 năm 2009, ít nhất 70 người trong một tỉnh ở Quảng Đông (Trung Quốc) bị ngộ độc thực phẩm. Thực tế cho thấy các bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác nhân gây bệnh đang là một vấn đề đáng báo động đến sức khoẻ cộng đồng trên toàn cầu.2 Tình hình ngộ độc thực phẩm trong nước Theo cáo của Bộ Y tế (2014) [2], (2015) [3], (2016) [4], (2017) [5], tình hình ngộ độc thực phẩm ở nước ta từ 2011 đến 2016 được tổng hợp ở bảng 1.
Tình hình ngộ độc thực phẩm ở người trong cả nước từ 2011 - 2016 TT Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016 1 Số vụ ngộ độc 148 168 167 194 140 129 2 Số người mắc 4700 5541 5558 5523 4273 4139 3 Số người tử vong 27 34 28 43 20 12 Nguồn: Bộ y tế (2014) [2], (2015) [3], (2016) [4], (2017) [5] Bộ y tế (2015) [3], trong tháng 12 năm 2015 xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm làm 373 người mắc, 316 người đi viện và có 02 trường hợp tử vong. Về căn nguyên: 05/11 vụ do vi sinh vật, 03/11 vụ do độc tố tự nhiên và còn 03/11 vụ chưa xác định được nguyên nhân gây ngộ độc. Tính từ ngày 17/12/2014 - 17/12/2015 toàn quốc đã xảy ra 140 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.273 người mắc, 3.990 người đi viện và 20 trường hợp tử vong. Theo Bộ y tế (2016) [4], trong năm 2016 toàn quốc đã xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm với 4139 người mắc, 3864 người đi viện, và 12 trường hợp tử vong.
Riêng trong 4 tháng đầu năm 2017 cả nước xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm làm 114 người mắc, 109 người đi viện, không ghi nhận tử vong. Về căn nguyên, 03/08 vụ do vi sinh vật, 02/08 vụ do độc tố tự nhiên, 03/08 trường hợp chưa xác định được nguyên nhân ngộ độc. Từ đầu năm 2017 đến tháng 4 năm 2017 toàn quốc xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm với 755 người mắc, 736 người đi viện và 15 trường hợp tử vong (Bộ y tế, 2017) [5]. Theo Nguyễn Thùy Dương và cs (2017) [9], hồi cứu số liệu chi tiết toàn bộ số vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm liên tục từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2014 được ghi nhận trong báo cáo lưu tại Chi cục 5 an toàn vệ sinh thực phẩm Hà Nội.
Kết quả cho thấy Hà Nội xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm với 204 người mắc, 185 người nhập viện và 01 trường hợp tử vong. Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc thực phẩm chủ yếu tại các bữa ăn gia đình (5/13 vụ chiếm 38,5%) và các đám cỗ cưới (5/13 vụ chiếm 38,5%). Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật chiếm 23% (3/13 vụ), do hoá chất chiếm 15% (2/13 vụ), do thực phẩm chứa độc tố tự nhiên chiếm 8% (1/13 vụ) và không xác định được nguyên nhân chiếm 54% (7/13 vụ). Có 8/13 vụ ngộ độc (61,5%) không có thực phẩm lưu để làm xét nghiệm.
Theo Sở y tế Bắc Giang (2016) [29], tại tỉnh Bắc Giang kết quả phòng tránh ngộ độc thực phẩm trong những năm qua chưa bền vững, số ca mắc trong các vụ ngộ độc thực phẩm năm 2011 là 8,3 ca/100.000 dân, năm 2012 là 0,7ca/100.000 dân, năm 2013 là 2,2 ca/100.000 dân, năm 2014 là 11,8 ca/100.000 dân, năm 2015 là 0,49 ca/100. Ước chung cho cả giai đoạn 2011 - 2015 là 5,0 ca/100. Trong 6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ NĐTP tại bếp ăn tập thể của 02 doanh nghiệp và 01 đám cưới hộ gia đình thuộc địa bàn thành phố Bắc Giang, huyện Việt Yên, huyện Sơn Động làm 173 người mắc, các vụ NĐTP đã được cơ quan y tế xử trí, cấp cứu, điều trị kịp thời, không có trường hợp tử vong. Tình hình nghiên cứu một số vi khuẩn gây ô nhiễm thịt 1.
Tập đoàn vi khuẩn hiếu khí Thuật ngữ “vi khuẩn hiếu khí” trong vệ sinh an toàn thực phẩm được hiểu bao gồm cả vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện. Dựa theo nhiệt độ phát triển của chúng người ta xác định hệ vi khuẩn có mặt trong thịt gồm 2 nhóm: Nhóm vi khuẩn ưa nhiệt phát triển tốt ở nhiệt độ 370C và không phát triển ở nhiệt độ 1oC; Nhóm ưa lạnh sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ thấp hơn. Hệ VKHK ở thịt thay đổi theo cách thức giết mổ, thời gian và điều kiện bảo quản, vi khuẩn ưa nhiệt có thể nhiễm vào thân thịt ngay sau khi giết mổ do đó những thực phẩm có nguồn gốc động vật thường được kiểm tra loại vi khuẩn này với nhiệt độ 35 - 37oC. Xác định tổng số VKHK trong thực phẩm được sử dụng như một nhân tố chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh, nhiệt độ và thời gian chế biến, vận chuyển và bảo quản thực phẩm.
Nó được tin là phương pháp tốt nhất để ước lượng vi khuẩn xâm nhập vào thực phẩm (Helrick, 1997) [49]. 6 Theo Lương Đức Phẩm (2002) [23], số lượng vi khuẩn hiếu khí càng nhiều thì mức độ nhiễm bẩn càng cao, thực phẩm mau hư hỏng và có thể gây ngộ độc cho người tiêu dùng. Vi khuẩn Salmonella spp 1. Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp * Tình hình nghiên cứu ngoài nước Salmonella spp được phát hiện lần đầu tiên năm 1885 bởi Salmon và Smith là Salmonella choleraesuis.
Năm 1934 chính thức được đặt tên Salmonella spp (Quinn P. Vấn đề nhiễm khuẩn các sản phẩm giết mổ vẫn đang rất cấp bách và được các cơ quan chức năng của các nước phát triển quan tâm. Theo điều tra mới đây của bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2008) [57] tới quý 4 năm 2007 vẫn còn 2% số nhà máy giết mổ gia cầm có có tỷ lệ sản phẩm nhiễm khuẩn Salmonella trên 23% (trên 12/51 mẫu), 24% số nhà máy có tỉ lệ sản phẩm nhiễm khuẩn Salmonella từ 14 đến 23% (từ 7 đến 12/51 mẫu) và 74% số nhà máy có tỷ lệ sản phẩm nhiễm khuẩn Salmonella dưới 11% (từ 6 mẫu trở xuống/51 mẫu). Nimri L và cs (2014) [534], đã tiến hành đánh giá tình hình nhiễm khuẩn trên bánh mỳ kẹp thịt (sandwiches) tại miền bắc Jordan.
Kết quả cho thấy 28,3% số mẫu dương tính với E. coli (28,3%); 25,5% dương tính với Salmonella spp; 15,9% dương tính với Citrobacter freundii và 8,3% dương tính với S. Tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn ở các mẫu sandwiches gà. Đa số các loài vi khuẩn phân lập được có hiện tượng kháng kháng sinh, đặc biệt là tetracycline và streptomycin.
Năm 2015, Donado - Godoy P và cs (2015) [455] tiến hành thử tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn Salmonella và E. coli phân lập được từ thịt gà bán lẻ tại Colombia. Kết quả cho thấy, gần 98% các chủng thử nghiệm có hiện tượng kháng đa thuốc (ceftiofur, enrofloxacin, acid nalidixic và tetracycline). và cs (2016) [411] cho biết: từ giữa năm 2010 và năm 2015, Viện Thú y nhà nước ở Olomouc thực hiện kiểm tra vi sinh trong tổng số 52.735 mẫu thịt và sản phẩm thịt để phát hiện Salmonella spp.
Các mẫu được thu thập ở Moravia và một phần Đông Bohemia. Kết quả cho thấy Salmonella spp đã được phát hiện trong 2,4% số mẫu kiểm tra. Thịt gia cầm có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất (21,9%) mổ gia cầm có tỉ lệ sản phẩm nhiễm khuẩn Salmonella dưới 11%. 7 * Tình hình nghiên cứu trong nước Theo Lưu Quốc Toản và cộng sự (2011) [36], đã nghiên cứu đánh giá nguy cơ thịt lợn nhiễm Samonella ở Hà Nội, kết quả cho thấy 25% mẫu thịt lợn bán tại các chợ trên địa bàn 2 phường Đức Giang và Ngọc Lâm, quận Long Biên dương tính với Salmonella.
Mức độ nhiễm Salmonella của các mẫu thịt lợn thu thập được rất khác nhau, dao động từ 100 – 27.500 vi khuẩn/25g thịt. Thực trạng nhiễm Salmonella của thịt lợn bán lẻ tại chợ trên địa bàn quận Long Biên là đáng lo ngại, tỷ lệ nhiễm Salmonella trung bình của thịt lợn bán lẻ tại các chợ nghiên cứu là 5%. Mức độ nhiễm Salmonella của các mẫu thịt lợn cũng rất khác nhau ở các chợ khác nhau, trung bình trên tất cả các mẫu được xét nghiệm dao động trong khoảng 35 vi khuẩn/5g thịt lợn. Cầm Ngọc Hoàng và cs (2014) [19] cho biết: Tỷ lệ mẫu thịt đạt chỉ tiêu vi sinh vật cao nhất đối với vi khuẩn Salmonella (90,24%), tiếp theo là E.
coli (76,83%) và thấp nhất là chỉ tiêu S.