Nghiên cứu nguyên nhân sạt lở đất và giải pháp khắc phục tại hồ Đăk Lông Thượng

Nghiên cứu nguyên nhân sạt lở quanh hồ khu vực khai thác vật liệu đập đất dự án Đăk Lông Thượng và đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2015

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguyên nhân sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng

Hồ Đăk Lông Thượng, một công trình thủy lợi quan trọng, đang đối mặt với hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của hiện tượng này bao gồm sự biến đổi khí hậu, điều kiện địa chất không ổn định và tác động của con người. Việc nghiên cứu nguyên nhân sạt lở đất là cần thiết để bảo vệ công trình và đảm bảo an toàn cho người dân xung quanh.

1.1. Các yếu tố tự nhiên gây sạt lở đất

Yếu tố tự nhiên như mưa lớn, địa hình dốc và cấu trúc địa chất là những nguyên nhân chính dẫn đến sạt lở đất. Mưa lớn làm tăng áp lực nước trong đất, dẫn đến sự mất ổn định của mái dốc. Địa hình dốc và cấu trúc địa chất yếu cũng làm tăng nguy cơ sạt lở.

1.2. Tác động của con người đến sạt lở đất

Hoạt động khai thác tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng và canh tác không bền vững đã làm gia tăng nguy cơ sạt lở đất. Việc cắt xén sườn dốc và thay đổi cấu trúc đất cũng là những yếu tố quan trọng cần được xem xét.

II. Thách thức trong việc khắc phục sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng

Việc khắc phục hiện tượng sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sự biến đổi khí hậu và thiếu nguồn lực tài chính đã làm cho công tác khắc phục trở nên khó khăn hơn. Cần có các giải pháp đồng bộ để giải quyết vấn đề này.

2.1. Điều kiện thời tiết và khí hậu

Thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt là mưa lớn và bão, làm gia tăng nguy cơ sạt lở đất. Các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ngày càng trở nên phổ biến, ảnh hưởng đến sự ổn định của đất.

2.2. Thiếu nguồn lực tài chính

Việc thiếu hụt ngân sách cho các dự án khắc phục sạt lở đất đã làm giảm hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Cần có sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức quốc tế để đảm bảo nguồn lực cho công tác này.

III. Phương pháp nghiên cứu nguyên nhân sạt lở đất

Nghiên cứu nguyên nhân sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Các phương pháp như phân tích địa chất, khảo sát hiện trường và mô hình hóa toán học sẽ giúp xác định chính xác nguyên nhân và mức độ nguy hiểm của hiện tượng này.

3.1. Phân tích địa chất và địa hình

Phân tích địa chất và địa hình là bước đầu tiên trong việc xác định nguyên nhân sạt lở đất. Các yếu tố như cấu trúc đất, độ dốc và loại đất sẽ được xem xét kỹ lưỡng.

3.2. Khảo sát hiện trường

Khảo sát hiện trường giúp thu thập dữ liệu thực tế về tình trạng sạt lở đất. Việc này bao gồm việc đo đạc, quan sát và ghi nhận các dấu hiệu của sự sạt lở.

IV. Giải pháp khắc phục sạt lở đất hiệu quả

Để khắc phục hiện tượng sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng, cần áp dụng các giải pháp công nghệ và tự nhiên. Các biện pháp như xây dựng tường chắn, trồng cây và cải tạo địa hình sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ sạt lở.

4.1. Xây dựng tường chắn đất

Tường chắn đất là một trong những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn sạt lở đất. Chúng giúp giữ đất lại và giảm áp lực lên mái dốc.

4.2. Trồng cây và cải tạo địa hình

Trồng cây và cải tạo địa hình là những giải pháp tự nhiên giúp tăng cường độ ổn định của đất. Cây cối giúp giữ đất và giảm thiểu xói mòn.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về nguyên nhân và giải pháp khắc phục sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng sẽ được áp dụng vào thực tiễn. Các biện pháp đã được thử nghiệm và đánh giá sẽ giúp cải thiện tình hình sạt lở tại khu vực này.

5.1. Thử nghiệm các biện pháp khắc phục

Các biện pháp khắc phục sẽ được thử nghiệm trên thực địa để đánh giá hiệu quả. Việc này giúp xác định biện pháp nào là phù hợp nhất cho điều kiện cụ thể tại hồ Đăk Lông Thượng.

5.2. Đánh giá hiệu quả sau khắc phục

Sau khi áp dụng các biện pháp khắc phục, cần tiến hành đánh giá hiệu quả để điều chỉnh và cải thiện các giải pháp trong tương lai.

VI. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu về nguyên nhân và giải pháp khắc phục sạt lở đất tại hồ Đăk Lông Thượng là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức và cải thiện công tác quản lý đất đai trong khu vực. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các công nghệ mới và giải pháp bền vững.

6.1. Tăng cường nhận thức cộng đồng

Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ sạt lở đất và các biện pháp phòng tránh. Việc này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại khi có sự cố xảy ra.

6.2. Phát triển công nghệ mới

Nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới trong việc giám sát và dự báo sạt lở đất sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa.

08/07/2025
Nghiên cứu nguyên nhân sạt lở quanh viền hồ khu vực khai thác vật liệu đập đất dự án đăk lông thượng và đề xuất giải pháp khắc phục

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Hồ chứa nước Đăk Lông Thượng là Hồ chứa nước cấp II có dung tích 11,67 x106 m3được khởi công xây dựng năm 2007 hoàn thành đưa vào sử dụng vào đầu năm 2011nhằm phục vụ cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là cây công nghiệp: Càphê, tiêu) cho 3.076 ha; cấp nước sinh hoạt cho người dân ở 2 xã Lộc Đức, Lộc Ngãi – Huyện Bảo Lâm- Lâm Đồng và kết hợp cắt giảm lũ hạ lưu, nuôi trồng thủy sản, cải tạo môi trường cảnh quan du lịch. Hiện nay, Hồ Đăk Lông Thượng đã tích nước đạt theo yêu cầu của thiết kế - mực nước dâng bình thường ở cao trình 904,14 m, tương ứng với dung tích 10,73 x106 m3. Trong quá trình vận hành, khai thác đã xuất hiện hiện tượng sạt lở, lún sụt đất khu vực lòng hồ và lận cận công trình.Dẫn đến đường quanh viền lòng hồ bị hư hại, ảnh hưởng đến việc sản xuất Nông nghiệp của người dân quanh vùng hưởng lợi của dự án.Bên cạnh đó hiện tượng trên có khả năng phát triển rộng dẫn đến khối lượng đất đá lớn có nguy cơ sạt trượt xuống thượng lưu đập, đây là nguy cơ mất an toàn Hồ chứa.

Hiện tượng trượt lở mái dốc có thể xảy ra khi điều kiện cân bằng của khối đất đá bị phá hủy. Nguyên nhân gây trượt có thể hoặc là do độ bền của đất đá bị giảm đi, hoặc là do trạng thái ứng suất ở sườn dốc bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi, hoặc do cả hai nguyên nhân trên. [1], các nguyên nhân gây trượt thường là: tăng cao độ dốc của sườn dốc khi cắt xén, khai đào hoặc xói lở, khi thi công mái quá dốc; giảm độ bền của đất đá do biến đổi trạng thái vật lí như thay đổi độ ẩm, trương nở, giảm độ chặt, phong hoá, phá huỷ kết cấu tự nhiên, các hiện tượng từ biến trong đất đá; tác động của áp lực thuỷ tĩnh và thuỷ động lên đất đá, gây nên biến dạng thấm; biến đổi trạng thái ứng suất của đất đá ở trong đới hình thành sườn dốc và thi 2 công mái dốc; các tác động bên ngoài như chất tải trên sườn dốc, dao động địa chấn và vi địa chấn, v. Mỗi một nguyên nhân riêng biệt kể trên đều có thể làm mất cân bằng của các khối đất đá ở sườn dốc, nhưng thông thường là do tác động đồng thời của một số trong những nguyên nhân đó.

Việc nghiên cứu hiện tượng sạt lở quanh viền hồ khu vực khai thác vật liệu đắp đập dự án Đăk Lông Thượng là rất cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và dự báo cảnh báo sạt lở đang được các nhà khoa học, ngành quan tâm. Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được nguyên nhân gây ra sạt lở, qua đó chọn ra được biện pháp công trình để ngăn chặn sự sạt trượt của mái đất bảo vệ công trình và khu vực quanh công trình Đầu mối dự án Đăk Lông Thượng, đảm bảo công trình phát huy hiệu quả kinh tế và an toàn cho người dân ở khu vực thượng hạ lưu Hồ Đăk Lông Thượng. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Phân tích được sự tương quan của hệ số ổn định của mái dốc và áp lực nước lỗ rỗng dưới tác dụng lượng mưa trong thời đoạn tính toán.

-Đánh giá hiện trạng và diễn biến của hiện tượng sạt lở quanh viền hồ khu vực khai thác vật liệu đắp đập dự án Đăk Lông Thượng. - Đề xuất biện pháp công trình để hạn chế và ngăn chặn hiện tượng sạt trượt mái dốc. Phương pháp nghiên cứu: - Phương phương pháp kế thừa các đề tài dự án đã có, liên quan đến nội dung nghiên cứu. - Phương pháp tổng hợp, chọn lọc, phân tích và thống kê.

- Phương pháp điều tra, khảo sát đo đạc tại hiện trường. - Phương pháp ứng dụng mô hình toán. Kết quả dự kiến đạt được: - Xác định được nguyên nhân gây ra hiện tượng sụt lún sạt lở đất khu vực lòng Hồ và khu vực lân cận công trình Đăk Lông thượng -Đề xuất biện pháp công trình để hạn chế và ngăn chặn hiện tượng trên. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SẠT LỞ ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu sạt lở đất trên thế giới và tại Việt Nam 1.1 Tình hình nghiên cứu sạt lở đất trên thế giới[2] Hiện tượng sạt lở đất là thảm họa gây thiệt hại lớn về con người và vật chất tại nhiều nước trên thế giới, đã để lại những hậu quả sâu sắc và việc khắc phục sau thảm họa là rất lâu dài với kinh phí rất lớn. Ngày 27/4/2012 tại Hội thảo khoa học với đề tài “Sạt lở đất và quan trắc – Kinh nghiệm tại Thái Lan và Bài học cho Việt Nam, Giáo sư Hiroyasu Ohtsu (Nhật Bản) đã dẫn chứng các con số thống kê cho thấy việc sạt lở đất và các ảnh hưởng của nó ngày càng gia tăng. Chẳng hạn tại Thái Lan, giai đoạn 1968 - 1987, con số thiệt hại về người và của do các vụ sạt lở là không đáng kể, nhưng từ năm 1997 đến 2009, con số thiệt hại gia tăng nhanh chóng. Cụ thể số thiệt hại về vật chất giai đoạn 1988 - 1997 tại Thái Lan là 1,00 tỉ Bath, con số này đã tăng lên là 3,6 tỉ Bath trong 10 năm kế tiếp.

Tần suất xảy ra sự cố sạt lở cũng ngày càng tăng.Cũng như Thái Lan các nước khác cũng gặp phải những thảm cảnh tương tự. Một số hình ảnh về sạt lở đất gây thiệt hại nghiêm trọng trên thế giới Hình 1.1 Quang cảnh vụ sạt lở đất tại thành phố Hiroshima – Nhật Bản ngày 20/8/2014 5 Hình 1.2 Cảnh sạt lở đất khu vực Oso hạt Snohomich Bang Washington-Mỹ Nghiên cứu về thiên tai sạt lở mới được tiến hành nghiên cứu vào đầu thế kỷ XX. Các vấn đề nghiên cứu vị trí phấn bố sườn dốc, mái dốc trượt để tập trung làm sáng tỏ cơ chế, mô tả đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn và phân tích các yếu tố tác động như yếu tố tự nhiên, nhân tạo tác động đến động lực và quy luật phát sinh và phát triển sạt lở. Tác động của việc cắt xén sườn dốc, mưa kéo dài là tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra trượt mái dốc, được phân tích rõ nét trong các tạp chí khác nhau (Campell TH, 1975, De Graff JV.

Về phương diện nghiên cứu tác động và quy luật phân bố sạt lở đất đá, các nhà khoa học thuộc Liên Xô cũ đã có những cống hiến đáng kể (Popov IV, 1959, Lomtadze VD 1982.) Đến nay, đã có nhiều phương pháp đánh giá ổn định trượt mái dốc và dự báo sạt lở, phân vùng nguy cơ trên cơ sở xét đến cấu tạo sườn dốc, tính chất cơ lý đất đá.đồng thời dựa trên lý thuyết cân bằng giới hạn của môi trường xốp đồng chất và đẳng hướng. Phương pháp gần đúng của các tác giả Felenius V.được sử dụng nhiều để kiểm tra ổn định mái dốc, dưới sự trợ giúp của các công cụ máy vi tinh với các phần mềm (GEOSTUDIO) hỗ trợ cho phép xử lý số liệu chính xác và nhanh chóng hơn. Độ chính xác cao đạt được do có xét đến khá đầy đủ các 6 thông số ảnh hưởng đến ổn định sườn dốc (áp lực thủy động, áp lực thủy tĩnh, áp suất lỗ rỗng.), nhưng các phương pháp trên chỉ xác định được ổn định sườn dốc tại một vị cụ thể. Để có thể xác định ổn định của một vùng lãnh thổ nhằm khoanh các vùng có nguy cơ sạt lở cao, một số tác giả đã đề xuất phương pháp phân tích đa chỉ tiêu và ma trận bán định lượng để dự báo phần vùng theo lãnh thổ theo mức độ nhạy cảm của các thông số ảnh hưởng đến sườn dốc (Sateen VM.

Mặc dù là phương pháp gần đúng, bán định lượng nhưng phương pháp ma trận đa chỉ tiêu khá phổ biến ở các nước Nhật Bản, Mỹ. trong việc thành lập các bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở. Cho đến những năm đầu thế kỷ XXI sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tính toán bằng máy tính đáp ứng cho mọi lĩnh vực của xã hội, các phần mềm tính toán được nâng cấp và phát triển mạnh mẽ, trong đó phần mềm tích hợp nền AcrGIS như Sinmap (trên cở sở theo lý thuyết cân bằng giới hạn) đã giải quyết những vấn đề tính toán xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở.2 Tình hình nghiên cứu sạt lở đất ở Việt Nam [2] Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, có địa hình đa dạng gồm: núi, cao nguyên, đồng bằng và bờ biển. Diện tích tự nhiên 330,000 Km2 , trong đó diện tích đồi núi chiếm 65%, hướng dốc chính Tây Bắc-Đông Nam.

Nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, thường xảy ra mưa lớn gây lũ lụt. Với điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng, hiện tượng sạt lở đất ở miền núi, sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra tương đối phổ biến. Những năm gần đây sạt lở đất diễn ra trên phạm vi cả nước. Theo thống kê từ Ban chỉ đạo PCTT Trung ương, trong giai đoạn 2000-2015, đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở đất, làm chết và mất tích 646 người, bị thương 351 người; hơn 9,700 căn nhà bị đổ trôi, 100,000 căn nhà bị hư hỏng nặng; hơn 75,000 ha lúa, hoa màu bị ngập úng… Tổng thiệt hại ước tính trên 3,300 tỷ đồng.3 Sạt lở Đường giao thông từ Sa Pa đi Bản Khoang – Lào Cai ngày 5/9/2013 Hình 1.4 Sạt lở Đường giao thông Km16 + 600 QL 18C ngày 18/8/2012 khu vực xã Đồng Tâm (Bình Liêu) – Quảng Ninh 8 Cùng với sự phát triển của nghiên cứu, đánh giá thiên tai trên thế giới, trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu Việt Nam tập trung đánh giá thiên tai tổng hợp cho nhiều vùng trong cả nước, ví dụ như những nghiên cứu điển hình cấp quốc gia như đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước KC08-01 “Nghiên cứu xây dựng bản đồ tai biến môi trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” do GS.

Nguyễn Trọng Yêm chủ nhiệm (Viện Địa chất), đề tài độc lập “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các loại hình thiên tai trên lãnh thổ Việt Nam và các giải pháp phòng tránh” do TS. Trần Trọng Huệ làm chủ nhiệm (Viện Địa Chất), Nghiên cứu “ Điều tra thiên tai thiên nhiên vùng Tây Bắc ” do TS Đào Văn Thịnh chủ nhiệm (Liên đoàn BĐĐC miền Bắc) và nghiên cứu “Điều tra thiên tai thiên nhiên vùng Tây Nguyên” do TS Phan Thanh Sáng chủ nhiệm (LĐ ĐCTV - ĐCCT miền Trung).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ