Mở đầu (lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu). Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực nghiệm khảo sát và chế tạo vật liệu. Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận.
Nội dung nghiên cứu của luận văn đã đƣợc đăng trong hội nghị khoa học. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nội dung của chƣơng trình bày tổng quan về cấu trúc, hình thái, tính chất, phƣơng pháp chế tạo và khả năng ứng dụng của vật liệu nano silica. Đặc biệt, nội dung chính đƣợc đề cập là phƣơng pháp chế tạo nano silica từ tro bay nhiệt điện và tiền chất TEOS bằng các phƣơng pháp hoá học đơn giản, chi phí thấp. Tìm hiểu các thông tin về tro bay của các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam, từ đó nêu bật đƣợc các vấn đề cấp thiết sử dụng nguồn chất thải quí này.
TỔNG QUAN VỀ NANO SILICA Trong những năm gần đây, công nghệ nano đã và đang thu hút đƣợc quan tâm nghiên cứu và phát triển các ứng dụng vào trong thực tiễn cuộc sống, khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Công nghệ nano đƣợc ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ khác nhau nhƣ điện tử, không gian vũ trụ, quốc phòng, y tế, nha khoa, môi trƣờng và xây dựng. Điều này liên quan đến thiết kế, tổng hợp, mô tả và ứng dụng vật liệu, thiết bị theo thang đo nano mét. Các vật liệu nano đƣợc tạo ra đem lại nhiều lợi ích cho con ngƣời, nhƣng không phải ai cũng hiểu hết về vật liệu ở kích thƣớc này.
Chúng ta có thể hiểu đơn giản hạt nano là chùm nguyên tử hay phân tử có bán kính bé hơn hoặc bằng 100 nm. Với kích thƣớc nhƣ vậy, tổng số nguyên tử trong một hạt sẽ nằm trong khoảng 10 đến 106 nguyên tử. Thông thƣờng, mỗi hạt nano có kích thƣớc 1 nm chứa 25 nguyên tử. Hạt ở kích thƣớc nano sẽ có những tính chất rất đặc biệt.
Trong phần này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về cấu trúc, tính chất và ứng dụng của hạt nano silica, để hiểu rõ hơn vì sao hạt nano silica lại đƣợc “ƣu ái” sử dụng. Cấu trúc, hình thái và tính chất Silica đã đƣợc biết đến với con ngƣời từ thời cổ đại, rất lâu trƣớc khi chúng ta biết chính xác silica đƣợc cấu thành từ 2 nguyên tố silic và oxy. Silica là một chất tên khác của hợp chất hóa học silic điôxit. Mỗi phân tử silica bao gồm một nguyên tử silic và hai nguyên tử oxy.
Nếu bạn chƣa bao 4 giờ nghe silica trƣớc đây, bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng bạn đang tiếp xúc với nó hàng ngày. Silica tạo ra khoáng vật đƣợc gọi là thạch anh, đây là khoáng vật phong phú nhất trong lớp vỏ trái đất. Đây là thành phần chính của hầu hết các loại cát và thành phần chính trong thủy tinh. Mỗi lần bạn lấy một ly nƣớc để uống, bạn đang sử dụng silica.
SiO2 có một số dạng tinh thể khác biệt (đa hình) ngoài các dạng vô định hình. Ngoại trừ silica sợi, tất cả các dạng tinh thể liên quan đến các phân tử SiO4, nguyên tử Si nằm ở trung tâm của tứ diện liên kết hóa trị với bốn nguyên tử O nằm ở các đỉnh tứ diện. Chiều dài liên kết Si-O thay đổi giữa các dạng tinh thể khác nhau. Trong mẫu α-thạch anh chiều dài liên kết Si-O là 161 μm, trong khi α-tridymite nằm trong khoảng 154-171 μm.
Góc liên kết Si-O-Si cũng khác nhau, nhỏ nhất là khoảng 140° trong α-tridymite và lên đến 180° trong β-tridymite, còn trong α-thạch anh, góc liên kết Si-O-Si là 144°. Silica sợi có cấu trúc tƣơng tự nhƣ SiS2 với các Si-O-Si liên kết các phân tử SiO4. Mật độ của khoáng stishovite là 4.287 g/cm3 so với α- thạch anh, mật độ thấp nhất của áp suất thấp là 2,648 g/cm3 [15]. Cấu trúc tinh thể SiO2.
Sự khác biệt về mật độ có thể đƣợc cho là sự gia tăng phối hợp nhƣ sáu chiều dài liên kết Si-O ngắn nhất trong stishovite (bốn chiều dài liên kết Si-O 176 pm và hai chiều dài còn lại là 181 pm) lớn hơn Si-O chiều dài (161 pm) trong (α -thạch anh) [34]. Việc thay đổi phối hợp giữa các liên kết sẽ làm tăng lực hút giữa các ion của liên kết Si-O nhƣ Hình 1. Quan trọng hơn, bất kỳ sai lệch nào từ các tham số chuẩn sẽ tạo ra sự khác biệt hoặc biến thể vi mô của vật liệu silica vô định hình hoặc thủy tinh có liên kết bền vững. Các tính chất của silica bao gồm tính chất hóa học và vật lý nhƣ độ cứng, màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi, tốc độ phản ứng.
Silica trong điều 5 kiện nhiệt độ và áp suất bình thƣờng là một khoáng chất rắn kết tinh với độ cứng tƣơng đối cao, đƣợc đánh giá độ cứng 7 trên thang đo Mohs (một thang đo đƣợc sử dụng để đo độ cứng của khoáng chất tƣơng đối với nhau, trong đó kim cƣơng có độ cứng là 10). Silica tinh khiết là không màu, nhƣng nếu có lẫn các tạp chất trong một mẫu thạch anh, thì chúng có thể đƣợc nhuộm màu. Ví dụ hoa hồng thạch anh là sự hòa trộn silica với một lƣợng sắt, mang lại cho nó một màu hồng nhạt. Thạch anh Milky đơn giản chỉ là silica với bong bóng khí hoặc sự hòa trộn của chất lỏng làm cho khoáng chất có màu trắng.
Các tính chất của vật liệu nano thƣờng phụ thuộc vào kích thƣớc của chúng. Vật liệu nano có tính chất vật lý và hóa học độc đáo so với các vật liệu khối. Sự thay đổi nồng độ silanol và số nhóm silanol theo kích thước hạt SiO2. Một số tính chất nhƣ diện tích bề mặt riêng, các tính chất quang, quang phổ đối với kích thƣớc hạt ít khi đƣợc báo cáo.
Số nguyên tử nằm trên bề mặt tăng lên cùng với sự giảm kích thƣớc hạt. Đối với các hạt nano silica nhỏ hơn 5 nm, hơn một nửa các nguyên tử Si có mặt trên bề mặt. Do đó bề mặt phải có một hoặc nhiều nhóm silanol (≡Si-OH). Mức độ biến đổi hóa học của silica nhƣ ghép với các nhóm chức năng và sự kết hợp của các ion kim loại phụ thuộc vào nồng độ của các nhóm silanol trên mỗi lƣợng silica.
Số nhóm 6 silanol trên một đơn vị diện tích silica cung cấp thông tin liên quan đến phân bố các nhóm silanol trên bề mặt silica [2]. Nồng độ của các nhóm silanol gia tăng cùng với sự giảm kích thƣớc hạt tƣơng quan với tăng diện tích bề mặt riêng đƣợc mô tả nhƣ trên Hình 1. Tuy nhiên, số lƣợng silanol giảm với sự giảm kích thƣớc hạt cho thấy rằng hạt nano có thể phản ứng hóa học, do đó thích hợp cho các ứng dụng xúc tác. Sự thay đổi diện tích bề mặt BET theo kích thước hạt SiO2 [2].
Tính chất cơ học của bê tông với các nồng độ phụ gia nano SiO2 khác nhau. Tính hấp phụ bề mặt cao là một trong những tính chất đáng chú ý của hạt nano gốm nói chung và silica nói riêng. So với các đối thủ truyền thống và thƣơng mại, các hạt nano silica cho thấy khả năng hấp thụ hóa học và thậm chí phân tách nhiều phân tử hữu cơ độc hại. Tính hấp thụ độc đáo này liên quan trực tiếp đến sự gia tăng diện tích bề mặt ở kích thƣớc nano [19].
7 Hơn nữa, silica có nhiệt độ nóng chảy rất cao lên đến 3110 °F. Thông thƣờng, để làm tan chảy cát (silica) cần có một cái lò lớn, ở nhiệt độ cao. Thủy tinh silica có thể phản ứng với axit fluoric, đƣợc sử dụng để khắc etch thạch anh trong ngành công nghiệp bán dẫn. Silica cũng phản ứng với các oxit kim loại nhƣ natri oxit hoặc chì oxit.
Những phản ứng này đƣợc sử dụng để sản xuất các loại thủy tinh khác nhau, nhƣ thủy tinh borosilicat hoặc thủy tinh chì. Thủy tinh borosilicat là loại thủy tinh có thể xử lý sự thay đổi của nhiệt độ đột ngột. Nó thƣờng đƣợc sử dụng cho phòng thí nghiệm.4 trình bày các tính chất cơ học khác nhau của bê tông với nồng độ nano silica thay đổi. Có thể nhận thấy rằng với sự gia tăng hàm lƣợng silica, ngoại trừ mô đun của Young, tất cả các tính chất cơ học khác bao gồm cƣờng độ uốn, độ dẻo và độ cứng tăng lên đầu tiên đạt đến giá trị đỉnh điểm ở 15% trọng lƣợng, và sau đó giảm khi hàm lƣợng nano silica 20% trọng lƣợng.
Ở hàm lƣợng nano silica 15% trọng lƣợng, lớp nano composit biểu diễn những biểu diễn cơ học tốt nhất. Vì sức bền uốn, độ dẻo dẻo và độ cứng là 198,6 MPa, 0,72 MPa và 21,0 HV, lần lƣợt là 31,3%, 53,2% và 20,2% so với khi sử dụng epoxy. Tuy nhiên, với sự gia tăng hàm lƣợng silica lên đến 20% trọng lƣợng, thì sức bền uốn, độ dẻo và độ cứng của bê tông giảm nhẹ xuống khoảng 1,0%; 8,3%; và 4,8% so với giá trị cao nhất tƣơng ứng. Trong khi đó, môđun đàn hồi Young của mẫu bê tông tăng theo thời gian từ 3,91 GPa đến 5,78 GPa; giá trị tăng lên 47,8%, khi lƣợng chất xúc tác nano silica tăng từ 0 đến 20% trọng lƣợng.
Phương pháp vật lý và hóa học chế tạo vật liệu nano SiO2 [14]. Phương pháp chế tạo nano silica Sự phát triển của các hạt nano với những tính chất cải tiến đã đƣợc nghiên cứu với nhiều thành công trong một số lĩnh vực nhƣ tổng hợp và khoa học bề mặt. Tiến bộ trong công nghệ nano đã dẫn đến việc sản xuất nano SiO2 đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ là chất độn, phụ gia trong vật liệu xây dựng. Các hạt silica chiết xuất từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có chứa tạp chất kim loại và không thuận lợi cho các ứng dụng khoa học và công nghiệp tiên tiến.
Do đó, tập trung vào các silica tổng hợp (silica keo, silica gel, pyrogenic silica, và silica kết tủa), tinh khiết và đƣợc sản xuất chủ yếu ở dạng bột vô định hình so với silica tự nhiên (thạch anh, tridymit, cristobalite) ở dạng tinh thể.5 mô tả phƣơng pháp sử dụng chế tạo các hạt silica có thể đƣợc phân thành hai phƣơng pháp chính: từ trên xuống dƣới và dƣới lên [14]. Phƣơng pháp từ trên xuống (Top-down) đƣợc đặc trƣng bằng cách giảm kích thƣớc của hạt ban đầu bằng cách sử dụng kỹ thuật giảm kích thƣớc đặc biệt bằng cơ học (phƣơng pháp vật lý). Phƣơng pháp từ dƣới lên (Down - top) là phƣơng pháp hóa học liên quan đến sự thủy phân và kết tụ của ion, hợp chất tiền chất tạo thành các nguyên tử hoặc phân tử. Dù silica phổ biến trong tự nhiên nhƣng ta cũng có thể tổng hợp theo nhiều phƣơng pháp khác nhau.