phần Mở đầu, Kết luận kiến nghị và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đươc̣ cấu trúc thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mua bán và sáp nhập ngân hàng. Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn đề mua bán và sáp nhập các ngân hàng bao gồm các định nghĩa liên quan đến M&A, phương thức tiến hành, động cơ thực hiện M&A, những lợi ích và hạn chế của việc M&A, quy trình tiến hành và các cách định giá ngân hàng khi thực hiện M&A. Chƣơng 2: Nghiên cứu trường hợp mua bán và sáp nhập ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội và ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội. Chương này giới thiệu tổng quan về hoạt động hai ngân hàng SHB và HBB, thực trạng hoạt động, năng lực cạnh tranh và trình bày những khó khăn và thuận lợi khi tiến hành sáp nhập, những vấn đề rút ra từ việc sáp nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sáp nhập của ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội và ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội.
Chƣơng 3: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện mua bán và sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam. Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc M&A các ngân hàng tại Việt Nam là một xu thế tất yếu phải xảy ra. Trên cơ sở đó Chương này đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện việc mua bán và sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam và giúp cho thương vụ M&A đạt được kết quả tốt nhất. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT VÀ MUA BÁN NGÂN HÀNG 1.
Lý luận về hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân hàng 1. Khái niệm, bản chất của sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân hàng Mergers and Acquisitions (gọi tắt là M&A) là cụm từ tiếng Anh, được dịch ra nghĩa tiếng Việt là “sáp nhập và mua lại”, hoặc “mua lại và sáp nhập”, “mua bán và sáp nhập” hay “thâu tóm và hợp nhất”, để chỉ hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua bán doanh nghiệp. Đây cũng là một thuật ngữ chưa đồng nhất mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990, tuy nhiên đối với thế giới nó có một lịch sử ra đời khá lâu dài, tồn tại và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. M&A rất phổ biến ở các nền kinh tế phát triển, ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt.
Khi xác định vấn đề sở hữu, một ngân hàng chiếm lĩnh hoàn toàn một ngân hàng khác và đóng vai trò là người chủ sở hữu mới thì được gọi là mua lại. Theo pháp lý, ngân hàng bị mua lại sẽ ngừng hoạt động dưới tên gọi của mình, ngân hàng tiến hành mua lại ôm trọn hoạt động kinh doanh của ngân hàng kia, tuy nhiên cổ phiếu của ngân hàng đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường. Sự giống nhau theo khái niệm trên, là cả hoạt động sáp nhập và mua lại đều có sự chấm dứt hoạt động của một trong hai ngân hàng tham gia trong giao dịch này. Điểm khác nhau cơ bản nếu có sự đồng thuận cao của ban lãnh đạo giữa hai ngân hàng về các nội dung thỏa thuận thì hoạt động mua lại được gọi là hoạt động sáp nhập.
Trong trường hợp ngược lại không được sự đồng thuận của ban lãnh đạo cấp cao ngân hàng và ngân hàng này bị thâu tóm thì hoạt động này được gọi là mua lại. Quá trình mua lại diễn ra khi có người mua người bán, cũng có thể lặp đi lặp lại nhiều lần thay đổi chủ sở hữu được gọi là hoạt động mua bán ngân hàng dưới hình thức mua bán và chuyển nhượng cổ phần ngân hàng. Theo từ điển Tài chính và Đầu tư, định nghĩa về M&A như sau: Sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, nơi mà số tiền thanh toán trên được trả cao hơn giá trị sổ sách bởi công ty mua lại như là một lợi thế thương mại. 9 Hợp nhất là nơi mà một công ty mới được thành lập có được tài sản thuần từ sự kết hợp tài sản của những công ty trước khi hợp nhất cộng lại.
Nói đúng ra, chỉ có sự kết hợp trong đó một trong những công ty tồn tại như một thực thể pháp luật. Được gọi là sáp nhập hoặc chính thức hơn, sáp nhập theo luật định được gọi là hợp nhất; hợp nhất kỹ thuật không phải là một khái niệm sáp nhập, các vụ sáp nhập hiện nay thường áp dụng cho họ, nơi mà sự thâu tóm được tiến hành bởi việc mua tài sản hoặc cổ phiếu bằng cách sử dụng tiền mặt hoặc là một công cụ nợ để thanh toán. Sáp nhập cũng có thể được phân loại theo chức năng kinh tế, có một số khái niệm về sáp nhập như: sáp nhập theo chiều ngang là một trong những kết hợp các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong các dòng sản phẩm và thị trường tương tự; sáp nhập theo chiều dọc là sự kết hợp của khách hàng và công ty hoặc nhà cung cấp và công ty; sáp nhập mở rộng thị trường là sự kết hợp các công ty bán các sản phẩm tương tự tại các thị trường khác nhau; sáp nhập mở rộng sản phẩm là kết hợp các công ty bán sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan trong cùng một thị trường. Mua lại là một trong những công ty mua lại quyền kiểm soát ở một công ty khác, nhà đầu tư luôn tìm ra cho các công ty có khả năng thu mua, bởi vì những người muốn mua lại công ty như vậy thường sẵn sàng trả nhiều tiền hơn giá thị trường cho các cổ phiếu mà họ cần để hoàn thành việc mua lại.
Theo từ điển các khái niệm thuật ngữ tài chính Investopedia: Sáp nhập (Mergers) xảy ra khi hai công ty thường có cùng quy mô đồng ý tiến đến thành lập một công ty mới duy nhất, hơn là việc duy trì hai công ty hoạt động riêng rẽ. Chứng khoán của hai công ty này sẽ bị xóa bỏ và chứng khoán của công ty mới được phát hành sẽ thay thế chúng. Mua lại (Acquisitions) là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khác với sáp nhập, mua lại liên quan đến việc một công ty tiến hành mua công ty khác mà không có sự thay đổi cổ phiếu hay hợp nhất thành công ty mới.
Theo định nghĩa kỷ thuật của David L.Scott: Sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty trong đó tài sản và trách nhiệm pháp lý của những công ty này do công ty khác tiếp nhận. 10 Mua lại là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay toàn bộ công ty. M&A trên thế giới đã có những quy định cụ thể rõ ràng về hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp, tạo nên hành lang pháp lý ổn định cho các chủ thể kinh tế như: Theo mục 91- Luật cạnh tranh của Canada: Sáp nhập là sự dành được hoặc thiết lập, gián tiếp hay trực tiếp, bởi một hay nhiều người bằng việc mua cổ phần hoặc tài sản, bằng việc gia nhập hoặc liên kết kinh doanh hoặc bằng các hình thức khác, để kiểm soát tất cả hoặc một phần quyền lợi đáng kể trong toàn bộ hoặc một phần của một doanh nghiệp của một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người khác. Theo quy định của luật này thì một “lợi ích đáng kể” trong toàn bộ hoặc một phần của doanh nghiệp chỉ đạt được khi một hoặc nhiều người có khả năng ảnh hưởng một cách cốt yếu đến thái độ kinh tế ( các quyết định liên quan đến giá cả, bàn hàng, phân phối, tiếp thị, hoặc đầu tư) của những doanh nghiệp hoặc một phần của những doanh nghiệp này.
Tại Việt Nam, hoạt động M&A còn quy định rời rạc trong một số văn bản Luật, như xem Hợp nhất (Consolidation) là chỉ hai hay một số doanh nghiệp cùng thỏa thuận chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một doanh nghiệp mới hoàn toàn, với tên gọi mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp cũ. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, khái niệm sáp nhập, hợp nhất được định nghĩa như sau: Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Tuy nhiên các khái niệm trên cũng chưa được nêu rỏ ràng, theo Điều 152, 153, Luật Doanh nghiệp đã đưa ra khái niệm về “sáp nhập”, “hợp nhất”, với quan điểm cho rằng các tổ chức tín dụng (TCTD) đều là “công ty cùng loại” có thể sáp nhập, hợp nhất với nhau nên mở ra 11 hướng quy định khái niệm cụ thể hơn như sau: Sáp nhập TCTD là hình thức một hoặc một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị sáp nhập) sáp nhập vào một TCTD khác (sau đây gọi là TCTD nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập; Hợp nhất TCTD là hình thức hai hoặc một số TCTD (sau đây gọi là TCTD bị hợp nhất) hợp nhất thành một TCTD mới (sau đây gọi là TCTD hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các TCTD bị hợp nhất.
Theo Luật cạnh tranh, tại Điều 17, Mục 3, Chương 2 các khái niệm này được định nghĩa như sau: Sáp nhập doanh nghiệp: là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Hợp nhất được xem là một trường hợp đặc biệt so với sáp nhập.