lời mở đầu, tài liệu tham khảo và danh mục các bảng, đồ thị, bài nghiên cứu gồm 5 phần: (i) Tổng quan về đề tài nghiên cứu; (ii) Tóm tắt các bài nghiên cứu trước kia; (iii) Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu; (iv) Nội dung và kết quả nghiên cứu; (v) Những hạn chế của bài nghiên cứu và kiến nghị. Đóng góp của đề tài Các bài nghiên cứu trước đây về đề tài mối liên kết động giữa tỷ giá hối đoái và biến động thị trường chứng khoán có xu hướng tập trung vào thị trường các quốc gia phát triển chỉ có rất ít bài nghiên cứu chuyên tâm vào thị trường kinh tế mới nổi. Hơn nữa, cũng rất ít bài nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu hiệu ứng lan tỏa biến động giữa thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán khi biến động thị trường chứng khoán có thể chuyển đổi giữa hai thời kỳ biến động thấp và biến động cao. Với bài nghiên cứu này tác giả trọng tâm nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia mới nổi Đông Nam Á đặc biệt là Việt Nam, những quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và chịu ảnh hưởng gián tiếp từ các quốc gia mới nổi khác.
Nghiên cứu thực nghiệm về mối liên kết động giữa tỷ giá hối đối với chứng khoán có nhiều ý nghĩa thiết thực cho các nhà giao dịch, nhà quản lý danh mục đầu tư và các nhà làm chính sách. Nhà giao dịch có thể giải thích luồng thông tin giữa thị trường chứng 4 khoán và thị trường ngoại hối. Kết quả nghiên cứu cũng có thể hữu ích cho việc đánh giá tính hiệu quả thông tin của thị trường mới nổi Asean so với thế giới. Quan trọng hơn nữa, kết quả có thể cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào cách mà cú sốc biến động tỷ giá hối đoái truyền dẫn vào thị trường chứng khoán, đánh giá mức độ và sự bền bỉ của các tác động đó theo thời gian.
Đối với những nhà quản trị rủi ro danh mục rất quan trọng để nêu ra cách hai thị trường được liên kết theo thời gian như thế nào để phát triển một chiến lược phòng ngừa rủi ro hiệu quả. Từ quan điểm ổn định nền tài chính, việc truyền dẫn biến động trên hai thị trườn cũng là một vấn đề quan trọng đáng xem xét cho các nhà hoạch định chính sách. 5 Chương II - Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây: 2.1 Tổng quan lý thuyết: Những lý thuyết kinh tế từ trước đến nay cho rằng có rất nhiều cách để thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối có thể tương tác với nhau, điều đó làm cho các nghiên cứu thực nghiệm về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường trên càng trở nên hấp dẫn hơn. Hướng tiếp cận lý thuyết trong các bài nghiên cứu thường đi theo một trong hai hình thức chính: hướng tiếp cận “flow-oriented” (Dornbush and Fisher, 1980) và hướng tiếp cận “stock-oriented” (Branson,1983; Frankel, 1983).
Theo hướng tiếp cận “flow-oriented”, tỷ giá hối đoái về cơ bản được xác định bởi cán cân tài khoản hoặc cán cân thương mại hiện hành của một quốc gia. Mô hình này giả sử rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và cán cân thương mại quốc tế; do đó, nó ảnh hưởng đến thu nhập thực và sản lượng thực. Mô hình “flow-oriented” khẳng định mối liên hệ tích cực (tương quan dương) giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán. Sự hạ giá đồng tiền địa phương (tỷ giá tăng do yết giá trực tiếp) dẫn đến khả năng cạnh tranh lớn hơn so với doanh nghiệp trong nước, khi đó hàng hóa xuất khẩu của họ sẽ rẻ hơn trong giao dịch quốc tế.
Xuất khẩu nhiều hơn sẽ gia tăng thu nhập nội địa và do đó giá chứng khoán của các công ty sẽ tăng do giá trị công ty được đại diện bởi hiện giá các khoản thu nhập trong tương lai tăng lên. Dounbush và Fisher trong bài nghiên cứu “Exchange rates and the current account” năm 1980 phát triển mô hình xác định tỷ giá hối đoái tích hợp vai trò của giá cả tương đối, thị trường tài sản và nhấn mạnh mối quan hệ giữa hành vi của tỷ giá hối đoái và tài khoản vãng lai. Những lý thuyết gần đây của tỷ giá hối đoái chỉ ra ngang giá sức mua hoặc tài khoản vãng lai là yếu tố quyết định chính của tỷ giá hối đoái theo địnhhướng kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong bài nghiên cứu của Robert Mundell và J. Marcus Fleming năm 1960 giới thiệu vốn lưu động như là một khía cạnh quan trọng của việc 6 xác định tỷ giá hối đoái.
Phương pháp này nhấn mạnh khả năng chênh lệch lãi suất danh nghĩa quốc tế phát sinh từ những kỳ vọng tỷ giá hối đoái. Kết hợp với giả định về tỷ giá hối đoái linh hoạt và tăng quá cao, tỷ giá hối đoái phát sinh từ tốc độ điều chỉnh khác biệt trong thị trường hàng hóa và tài sản. Ở hướng phát triển gần với các quan điểm nêu trên, Dounbush và Fisher đưa ra lý thuyết tỷ giá hối đoái mở rộng để một lần nữa giới thiệu tài khoản vãng lai như là một yếu tố quan trọng cho việc xác định tỷ giá hối đoái. Bài nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái.
Các tác giả đã giữ lại nhiều yếu tố của các hướng tiếp cận gần đây bao gồm tài sản cân bằng, và sự phân biệt giữa yếu tố bất ổn lường trước và không lường trước của nền kinh tế, nhưng bài nghiên cứu đã mở rộng cách tiếp cận mới bằng cách đưa ra một vai trò quan trọng đối với sự tích lũy tài sản theo thời gian thông qua tài khoản vãng lai, cùng với kỳ vọng chi phối hành vi linh hoạt của tỷ giá hối đoái. Một điểm khác biệt với các mô hình thị trường tài sản của tỷ giá hối đoái liên quan đến sự tăng quá mức của tỷ giá hối đoái từ nguyên lý sau: thay đổi tiền tệ trong thị trường tài sản di chuyển nhanh chóng liên quan đến hàng hóa thị trường dẫn đến một phần chiết khấu nhiều hơn của tỷ giá hối đoái. Lý do là cán cân thực tăng lên vì mức giá được xác định trước và trạng thái cân bằng danh nghĩa lãi suất giảm và lãi suất kinh doanh chênh lệch giá quốc tế yêu cầu một kỳ vọng tăng giá để bù đắp. Sự khác biệt về mô hình là một khía cạnh quan trọng trong bài nghiên cứu của tác giả với mức giá hoàn toàn linh hoạt để những bất ổn tiền tệ không có tác dụng thực tế.
Quá trình hoạt động của thị trường mở, chính sách tiền tệ nới lỏng với sự thu hút những tài sản bên ngoài dẫn đến sự suy giảm trong cán cân thực tế và do đó dẫn đến một sự thay đổi trong ngắn hạn hơn là tương ứng với sự sụt giảm của tiền. Theo hướng đó, thị trường tài sản xác định tỷ giá hối đoái vào một thời điểm nhưng tài khoản vãng lai thông qua ảnh hưởng của nó ở vị thế tài sản ròng và do đó thị trường tài sản xác định đường đi của tỷ giá hối đoái theo thời gian. Sự ra đời của kỳ vọng hợp lý, 7 lý thuyết tài sản và tài khoản vãng lai của tỷ giá hối đoái có thể dẫn tới một trạng thái cân bằng hoàn toàn trong đó điều chỉnh giá tài sản phản ánh một phần sự phát triển trong tương lai của tài khoản vãng lai. Bài nghiên cứu này mở rộng những nghiên cứu trước đây theo hai khía cạnh.
Đầu tiên, các tác giả đi theo hướng mô hình một hàng hóa đã được sử dụng rộng rãi trước đây. Thay vào đó, chúng ta giả định rằng quốc gia được nghiên cứu sản xuất một loại hàng hóa khác biệt, giá tương đối trên thế giới của hàng hóa đó là nội sinh. Đó là một sự bắt đầu quan trọng so với các nghiên cứu trước đây bởi vì phần mở rộng hàm ý hành vi của tỷ giá hối đoái không bị xác định riêng bởi hành vi của cầu tiền thực cân bằng thông qua liên kết ngang giá sức mua chặt chẽ. Mở rộng thứ hai của bài nghiên cứu dựa trên Fisher, Olivier Blancharch và Wilson, là phải xem xét những tác động hiện tại của những bất ổn tương lai được lường trước.
Câu hỏi này rất quan trọng vì nó cho thấy mẫu hình của tỷ giá hối đoái và hành vi tài khoản vãng lai không tuân theo kỳ vọng mô hình tài khoản vãng lai mở rộng. Làm như vậy, bài nghiên cứu cung cấp một cơ sở lý thuyết hợp lý cho các quan điểm phổ biến rằng có mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và hành vi tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, một quan điểm như vậy phải đủ điều kiện bởi vì những bất ổn dự kiến sau cùng sẽ làm giảm giá tỷ giá hối đoái, lúc ban đầu theo những quan điểm truyền thống dẫn đến sự kết hợp của thâm hụt tài khoản vãng lai và đánh giá cao tỷ giá hối đoái. Hơn nữa, mô hình của các tác giả vẫn có những thiếu sót quan trọng về danh mục tài sản còn bị giới hạn.
Theo hướng tiếp cận “stock-oriented” tỷ giá hối đoái được xác định bởi cung và cầu của các tài sản tài chính (financial assets) như cổ phiếu hay trái phiếu. Nói rộng ra, chúng ta có thể xác định hai loại của mô hình “stock-oriented”: mô hình danh mục đầu tư cân bằng và mô hình tiền tệ. Mô hình danh mục đầu tư cân bằng (Branson và Henderson, 1985; Frankel, 1983) công nhận tồn tại mối tương quan âm (quan hệ nghịch biến) giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái. Chính xác hơn, mô hình này xem xét một danh mục đầu tư quốc tế đa dạng và vai trò của sự thay đổi tỷ giá hối đoái 8 trong việc cân bằng cung cầu của tài sản tài chính trong nước và nước ngoài.
Theo cách đó, một sự tăng lên thu nhập giá chứng khoán trong nước sẽ dẫn đến sự đến sự thay đổi đồng nội tệ thông qua hai kênh chính là trực tiếp và gián tiếp. Kênh trực tiếp quy định rằng khi giá chứng khoán nội địa tăng lên sẽ khuyến khích các nhà đầu tư quốc tế xem xét lại sự lựa chọn danh mục đầu tư của họ. Đặc biệt hơn, họ sẽ cùng nhau mua nhiều tài sản nội địa và bán tài sản nước ngoài để có nhiều nội tệ sẵn sàng cho việc mua nhiều tài sản nội địa hơn, và do đó đồng tiền nội địa sẽ sụt giá. Ý tưởng chính cho kênh gián tiếp là sự tăng lên trong tài sản chứng khoán nội địa sẽ gia tăng sự giàu có.