Chương 1 - Giói thiệu: Trình bày tông quan và tóm tắt nội dung nghiên cứu bao gôm: lý do chọn đê tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, nội dung cùa chương cũng tập trung giới thiệu các yếu tổ mới hoặc đặc biệt cúa nghiên cứu, ý nghía thực tiền của nó trong lĩnh vực tương ứng và trinh bày bố cục cua bài nghiên cứu đê đám bâo sự logic và dễ hiếu Chương 2 - Tổng quan lý thuyết: Tông hợp và phân tích cơ sờ lý thuyết vồ dấu chân sinh thái, nơi ân giâu ô nhiêm và các nhân tô tác động đên suy thoái mỏi trường Chương 3 - Phưo’ng pháp nghiên cứu: Phát triên các giá thuyêt nghiên cửu vả xác định phương pháp nghiên cứu phù họp đê đạt được các mục tiêu nghiên cứu đà đề ra Chưo*ng 4 - Kết quả và thảo luận: Trình bày kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả nhằm đánh giá thực trạng cúa dấu chân sinh thái và các nhân tố ảnh hưởng đen dấu chân sinh thái ờ các quôc gia thuộc ASEAN+3 theo sỏ liệu từng năm từ 2010 đên 2020 11 Chuong 5 - Kết luận: Ket luận, tóm tắt nghiên cứu, đưa ra hàm ý quán trị phù hợp đế giam thiêu dấu chân sinh thái. Bên cạnh đó nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và đề ra hướng nghiên cửu mở rộng cho các đề lài khác trong tương lai. 12 CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
Dấu chân sinh thái Theo Wackernagel và cộng sự (1999) dấu chân sinh thái (EF) có thê được định nghĩa: “Diện tích đất và nước có khả năng san xuất về mặt sinh học, cần thiết để tạo ra các nguồn tài nguyên được tiêu thụ và hấp thụ chất thải do con người tạo ra". Nó là một thước đo tông hợp về thiệt hại môi trường (York và cộng sự, 2003), do các hành vi liêu dùng cùa con người gây nên (Dietz và cộng sự, 2012). Dấu chân sinh thái bao gồm sáu thành phần chính của diện tích bề mặt sân xuất: đất trồng trọt, đất chăn thả, thủy sản, đẩl xây dựng, rừng và đất đáp ửng nhu cầu carbon (York và cộng sự, 2003). về cơ bản, nó đánh giá tác động môi trường cùa hoạt động liêu dùng của con người so với khá năng tái tạo của tự nhiên, được xác định bằng cách ước lượng vốn tự nhiên cần thiết đỗ duy trì nhu cầu tài nguyên dân số loàn cầu và hấp thụ chất thâi, được đo bằng Ha đất tiêu chuấn hoặc diện tích năng suất sinh học tiêu chuẩn (Rees và Wackernagel, 2004).
Hơn nữa, dấu chân sinh thái đỏng vai trò là chi số tồng hợp quan trọng đế các quốc gia, lãnh đạo địa phương và cá nhân hiêu và nâng cao phúc lợi, tôi ưu hóa đâu tư vào dự án công và hicu được các tác động toàn cầu (Tài khoản Dấu chân Quốc gia, 2016). Nó đóng vai trò trong việc ước lượng khả năng tái tạo của nguôn tài nguyên săn có và đánh giá áp lực của con người lên chúng, nêu bật sự cạn kiệt cúa các dịch vụ sinh thái với tốc độ vượt quá khá năng tái tạo của Trái Đất. Ngoài vai trò là thước đo của sự suy thoái môi trường, dấu chân sinh thái còn mở rộng cuộc đối thoại về sự bền vững. Nó thực hiện được điều này bằng cách theo dõi nhu cầu của con người đối với các tài nguyên thiên nhiên, thay vì chí tập trung vào việc tích lũy và cô lập carbon trong khỉ quyến (Charfeddine và Mrabet, 2017).
Giả thuyết noi ẩn giấu ô nhiễm ( Pollution haven hypothesis) Giả thuyết nơi ấn giấu ô nhiễm cho biết các nước phát triển thường chọn đặt các cơ sở sản xuất của mình tại nhừng quốc gia có quy định môi trường lỏng lẻo (Kim và Adilov, 2012). Giá thuyêt này đúng đôi với các công ty tham gia vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm nặng như ngành dầu, giấy và thóp. Khi các quy định về môi trường nghiêm ngặt đòi hỏi chi phi cao cho hoạt động sàn xuât, các tập đoàn đa quôc gia thường sẽ chuyến cơ sớ sán xuất đến những nước cỏ quy định về môi trường ít nghiêm ngặt hơn (Javorcik và Wei, 2004). Đông thời, các nước đang phát triên thường có khuynh hướng 13 giảm bớt hoặc thậm chí bỏ qua các thách thức về môi trường khi họ nới lóng các quy định đẻ thu hút đầu tư nước ngoài (FDI).
Kết quả là, các quốc gia này thường có quy định môi trường thấp hơn so với các nước phát triên khác, chính vì đó đà gây ra ô nhiễm (Kim và Adilov, 2012). Lý thuyết cho rằng các quổc gia có quy định môi trường lóng leo có thể thu hút FDI nhiều hơn, tuy nhiên các nghiên cửu thực nghiệm đà cho thấy các kết quá trái ngược về nơi ấn giấu ô nhiễm (Javorcik và Wei, 2004). Khái niệm này có ba yếu tố quan trọng. Thứ nhất, các hoạt động gây ô nhiễm thường di chuyên từ các quốc gia có quy định môi trường nghiêm ngặt đen các quốc gia có hệ thống kiêm soát môi trường yếu kém; sự di chuyên này thường được thúc đây bời sự phát triỗn cùa thương mại tự do toàn cầu (Aliyu, 2005).
Thử hai, việc xư lý chất thái nguy hại ờ các nước đang phát triên thường là kết quả cùa phát triển công nghiệp của các nước giàu cỏ. Thír ba, việc tiêu thụ rộng rài các nguồn năng lượng không tái tạo được ờ các quốc gia mới nôi. Các tập đoàn đa quốc gia thường chọn nhừng nguồn tài nguyên này trong quá trình sân xuất tạo ra những sản phẩm như dầu mó và các sản phấm liên quan. Các yếu to này quan trọng đối với các nhà quản lý chính sách khi họ đưa ra quyết định về chính sách môi trường (Aliyu, 2005).
Tác động cua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến suy thoái môi trường Mổi quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực liếp nước ngoài (FDI) và suy thoái môi trường là một chủ đề được thảo luận rộng rài trong các tài liệu về hành vi môi trường. Các học giâ và nhà hoạch định chính sách tham gia vào các cuộc tranh luận về tác động tích cực và tiêu cực cùa FDI. Dòng von FD1 có tiềm năng đóng góp trực tiếp vào đầu tư và đây mạnh phát triên kinh tẻ nhờ vào chuyên giao kiên thức và công nghệ cũng như tác động lan tỏa giúp nâng cao sán xuất (Lee, 2013; Wang, 2023). Tuy nhiên, nhược diêm là FDI cũng có thế dần đến phát thải carbon, đặc biệt ờ nhừng khu vực có chính sách môi trường lỏng léo.
Jain (2016) gợi ý rằng có nhiều bằng chứng ủng hộ ỷ kiến cho rằng các lập đoàn đa quốc gia, thông qua FDI, thường chuyển phát thài nguy hại sang các quốc gia đang phát triên với nhũng biện pháp kiếm soát sinh thái ít nghiêm ngặt hơn, không giống như các nước phát triển có quy định về mỏi trường nghiêm ngặt. Chính vì vậy sè gây nên sự gia tăng ô nhiềm ở các nước tiểp nhận (Li và cộng sự, 2018). Tác 14 động cụ thê của FDI đôn phát thái khỉ nhà kính cũng là một chủ đê được khám phá trong các tài liệu hiện có (Raíìndadi và cộng sự, 2018). Zhu và cộng sự (2016) xác định răng FDI cỏ mỏi quan hệ nghịch chiêu đáng kê đến lượng khí thải carbon ở các nước có mức phát thải trung binh và cao thuộc các quốc gia ASEAN do thiểu những sáng kiến đôi mới về môi trường.
Ojewumi và Akinlo (2017) đi sâu vào sự tương tác giừa FDI, tăng trường kinh tế và chất lượng môi trường ờ châu Phi cận Sahara, nêu bật mổi liên hệ rõ ràng giừa tăng trường kinh tế, FDI và phát thái. Họ đề xuất các chính phủ châu Phi cận Sahara nên cân bàng giừa các chỉnh sách phù hợp và quan lâm đến môi trường. Sarkodie và Strezov (2019) nghiên cức tác động đáng ke của FDI, tăng trướng kinh tổ và tiêu thụ năng lượng đổi với lượng khí thai carbon từ năm 1982 đến năm 2016, tập trung vào Trung Quốc, Àn Độ, Iran, Indonesia và Nam Phi. Phát hiện của họ cho thấy tác động tích cực đáng kê cùa việc tiêu thụ năng lượng đối với lượng khí thái carbon dioxide.
Ngoài ra, dòng vốn FDI có thể tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến giao công nghệ sinh thái, cái thiện vốn nhân lực và quản lý môi trường ờ các nền kinh tế mới nổi. Vương và cộng sự. (2023) nghiên cứu 14 nền kinh tế thuộc Liên minh Châu Âu và kết luận rằng FDI có thể gây suy thoái môi trường bằng cách tăng dấu chân sinh thái. Túc động của tồ chức tủi chính (FI) và thị trường tài chính (FM) đến suy thoái môi trường Hartmann và cộng sự (2007) định nghía phát triển tài chính là một quá trinh liên quan đến đối mới tài chính và tăng cường thể chế và tổ chức trong hệ thống tài chính.
Phát triển tài chính được xem là kết quà tổng hợp và chịu tác động bời nhiều yếu tố khác nhau, trong đỏ có chi sô tô chức tài chính (ngân hàng, quỳ hưu trí, quỳ tương hô và công ty bâo hiểm) và chi sổ thị trường tài chính (thị trường vốn cố phần và trái phiếu). Hai chi số phụ này (FI và FM) có the được phân tích sâu hơn, trong đó mồi chi sổ xem xét ba khía cạnh: độ sâu, phạm vi tiếp cận và hiệu quả. Nhừng nghiên cứu trước đây đã khám phá mối liên hệ giừa phát triển tài chính và suy thoái môi trường. Trong bối cánh ASEAN, Ahmad và cộng sự (2022) nhận thấy rằng với sự gia tăng phát triển và lài chính toàn diện, cá trong ngắn hạn và dài hạn, chất lượng mỏi trường đều có xu hướng suy giảm.
Ngược lại, Ahmed và cộng sự (2020) cho rằng việc tăng cường phát triển tài chính sẽ góp phần nâng cao chất lượng môi trường, 15 nhấn mạnh tầm quan trọng cùa việc phát triên tài chính bền vừng vỉ một môi trường sạch hơn. Tuy nhiên, mối liên hệ trung lập giừa phát triển tài chính và suy thoái môi trường đà được ghi nhận trong nghiên cứu của Chen và cộng sự (2019), tác giá đã nghiên cứu vai trò của phát triển tài chính đối với suy thoái môi trường bằng cách sứ dụng dừ liệu hàng năm từ 16 quốc gia CEE trong giai đoạn 1980 - 2016. Mặc dù đã xem xét các biến sổ khác, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy phát triển tải chính gây hại cho môi trường. Hiện tại, còn thiếu nghiên cứu thực nghiệm để làm rồ ảnh hường cua tồ chức (F1) và thị trường (FM) tài chính đối với suy thoái môi trường.
Đáng chú ý, những lác động khác biột đến suy thoái môi trường vẫn còn rõ ràng ớ các tố chức tài chinh và thị trường lài chính.