CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MVNO 1.1 Khái niệm MVNO Nhà khai thác mạng di động ảo (Mobile Virtual Network Operator - MVNO) là khái niệm ra đời từ rất lâu trên thế giới. Về bản chất, một công ty viễn thông sẽ luôn có những phần dung lượng mạng mà họ hiếm khi sử dụng. Để có thêm doanh thu, một số công ty viễn thông sẽ bán phần dung lượng dư cho công ty kinh doanh MVNO. Các công ty kinh doanh MVNO sẽ thuê lại phần dung lượng với giá sỉ, sau đó bán cho khách hàng giới giá bán lẻ.
Lợi nhuận của công ty kinh doanh MVNO sẽ là phần chênh lệch giữa hai mức giá. MVNO cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu di động tới khách hàng của mình dựa trên thỏa thuận hợp tác sử dụng cơ sở hạ tầng của nhà khai thác di động (MNO – Mobile Network Operator) khác. Một MVNO có thể hợp tác với nhiều MNO khác nhau. Những nhà khai thác di động (MNO) là nhà khai thác di động truyền thống đặc trưng bởi giấy phép sử dụng phổ tần sóng điện từ, có hạ tầng mạng di động của chính họ và có mối quan hệ trực tiếp tới khách hàng.
Với việc thuê lại một phần hạ tầng của các MNO, MVNO sẽ giảm được đáng kể những rào cản khi bước vào thị trường vì không phải bỏ ra hàng nghìn tỉ để xây dựng cơ sở vật chất. Hiêṇ nay có khá nhiều định nghĩa về MVNO tuy nhiên có một điểm thống nhất chung rằng MVNO có sản phẩm dịch vụ riêng biệt hoàn chỉnh. MVNO có các đặc điểm chính sau: • Không có phổ tần sóng điện từ va hạ tầng mạng truy nhập (Trạm thu phát sóng BTS- Base Transceiver Station, Bô ̣điều khiển traṃ gốc BSC- Base Station Controller) mà phải thuê lại từ các MNO khác dựa trên thỏa thuận kết nối. • Có thương hiệu riêng, có SIM riêng và có khách hàng riêng.
• MVNO mua lưu lượng từ ít nhất một MNO cung cấp tới khách hàng của mình và xây dựng các dịch vụ giá trị gia tăng. Hệ thống hỗ trợ kinh doanh của mạng gốc (mạng của MNO) sẽ hỗ trợ hoạt động kinh doanh của MVNO, trong trường hợp mạng gốc không có đủ điều kiện để hỗ trợ cho MVNO hoạt động tạo 4 thương hiệu riêng thì các MVNO sẽ phải đầu tư cho mình hệ thống này, hoặc sẽ phải có một MVNE (Mobile Virtual Network Enabler) hay một MVNA (Mobile Virtual Network Aggegator) đảm nhiệm vệc thiết lập các hệ thống hỗ trợ kinh doanh phù hợp phù hợp. Thường thì các hệ thống hỗ trợ kinh doanh chính là: hệ thống tính cước và hỗ trợ khách hàng CCBS, hệ thống hỗ trợ và vận hành mạng lưới OSS, hệ thống hỗ trợ và vận hành mạng lưới OSS… 1.2 Phân loại MVNO Có nhiều cách phân loại các loại mô hình triển khai MVNO khác nhau. Phổ biến nhất có hai cách phân loại chính thường được sử dụng là: • Phân loại dựa trên chuỗi giá trị tham gia cung cấp dịch vụ cho khách hàng mà nhà khai thác di động phải thực hiện • Phân loại dựa trên mối quan hệ với MNO.1: Phân loại MVNO dựa trên chuỗi giá trị tham gia cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
5 Ở hình trên MVNO được chia thành 3 loại – Brand Reseller (đại lý thương hiệu), MVNO trung bình và MVNO đầy đủ, với mỗi loại có sự kết hợp khác nhau về cơ sở hạ tầng và nhiệm vụ hoạt động tùy thuộc vào bề rộng và chiều sâu của mối quan hệ với các MNOs. Mọi MVNO đều có thể chọn mô hình kinh doanh phù hợp nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết qua MNO. Ngoài ra, ở hình trên minh họa kiến trúc kỹ thuật của các loại MVNO đã xác định, trong đó light MVNO chỉ sở hữu các hệ thống tiếp thị và chăm sóc khách hàng. Mô hình trung bình của MVNO thường có các hệ thống HLR, EIR, IN và AUC riêng.
Ngoài ra, mô hình đầy đủ của MVNO còn có trên VLR và MSC [1] • Brand Reseller (Đại lý thương hiệu) Hình 1.2: Mô hình Brand Reseller Đại lý thương hiệu là dịch vụ bán lại do MNO làm chủ cung cấp và có khả năng cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng của riêng mình với các tùy chọn hạn chế để tạo sự khác biệt cho các dịch vụ di động của mình ở cấp độ bán lẻ. Người bán lại MVNO sẽ hoạt động dưới thương hiệu riêng của mình hoặc đồng thương hiệu với nhà khai thác mạng di động (MNO) 6 Đây thường là loại MVNO dễ dàng nhất để MNO chấp nhận, vì MNO luôn kiểm soát hầu hết các quy trình. MVNO, trong trường hợp này, không có cơ sở hạ tầng cốt lõi và chỉ nắm giữ các phương tiện đảm bảo kiểm soát mối quan hệ với người dùng, VD: người bán lại sở hữu thương hiệu mang thương hiệu, kênh phân phối và /hoặc cơ sở khách hàng hiện tại có quy mô lớn đến thảo luận, từ đó họ có thể thúc đẩy doanh số bán hàng của mình. Ngoài ra, nó không có khả năng định giá và không có quyền sở hữu của khách hàng.
Người bán lại MVNO chịu trách nhiệm chính về các chi phí tiếp thị, bán hàng và phân phối. Doanh thu được chia sẻ với MNO. Thông thường, một tỷ suất tổng lợi nhuận nhất định so với ưu đãi bán lẻ hiện có từ MNO và trong một số trường hợp nhận được hoa hồng cho mỗi người đăng ký hoạt động có được. • Medium MVNO (Nhà cung cấp dịch vụ MVNO) Hình 1.3: Mô hình Medium MVNO 7 Nhà cung cấp dịch vụ MVNO là mô hình trung gian giữa Reseller và Full MVNO chịu trách nhiệm cung cấp hệ thống tính cước, quản lý khách hàng, và cung cấp dịch vụ.
Service Operator sử dụng Module nhận dạng thuê bao (Subscriber identity module- SIM) có dải số của chính họ. Họ sẽ hoạt động dưới thương hiệu riêng của mình hoặc đồng thương hiệu với nhà điều hành máy chủ. Trong các trường hợp tốt nhất, MVNO đưa ra một khái niệm, thương hiệu, các kênh phân phối hoặc một lượng lớn khách hàng hiện tại, từ đó nó có thể thúc đẩy doanh số bán hàng của mình hoặc tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Việc sử dụng các thẻ SIM có dán nhãn thương hiệu cùng với các số gán trước riêng có thể giúp nhà khai thác dịch vụ tạo ra quan điểm là nó độc lập với các nhà cung cấp dịch vụ di động khác.
Tuy nhiên thực tế Service Operator vẫn bị lệ thuộc vào MNO vì phần lớn những thay đổi sẽ đòi hỏi chuyển đổi SIM của khách hàng. Nhà khai thác dịch vụ có thể chia thành hai loại chính là: Nhà cung cấp dịch vụ truyền thống (Ordinary Service Providers - SP) và nhà cung cấp dịch vụ cải tiến (Providers of Enhanced Services - ESP) o Nhà cung cấp dịch vụ truyền thống (SP): là các nhà cung cấp dịch vụ bán lại các sản phẩm của MNO với thương hiệu hoặc của chính MNO hoặc là trên thương hiệu của họ. Điểm khác biệt của SP so với các Reseller là họ có thể tham gia vào một số hoạt động đặc biệt như là đóng, mở thuê bao, tính cước khách hàng và có dải số cho riêng mình [1] o Nhà cung cấp dịch vụ cải tiến (ESP): Các ESP có thể sử dụng SIM của MNO với thương hiệu của mình và có dải số độc lập. ESP có thể cung cấp các dịch vụ tiên tiến khác và tự quản lý thiết bị để phục vụ cho việc giám sát và cung cấp dịch vụ đó.
Tuy nhiên họ phải mua lại dịch vụ mạng và kết nối tới các mạng khác thông qua MNO [1] Nhà cung cấp dịch vụ cũng không sở hữu bất kỳ cơ sở hạ tầng mạng lõi nào, tuy nhiên lại có tiềm năng có nền tảng VAS. Họ cũng có khả năng định giá và có thể có quyền sở hữu của khách hàng. 8 Nhà cung cấp dịch vụ MVNO thường chịu trách nhiệm về các quy trình chăm sóc khách hàng, bao gồm quản lý quan hệ khách hàng (CRM), hỗ trợ, quy trình thanh toán và nền tảng thanh toán (BSS), thuế quan, gói và chương trình khuyến mãi, chi phí tiếp thị, bán hàng và phân phối, cũng như OPEX và CAPEX liên quan đến nền tảng Công nghệ thông tin. Doanh thu được tạo ra từ lưu lượng truy cập của khách hàng của chính nó (sở hữu khách hàng, nhưng không phải của IMSI).
Bao gồm các chi phí: o Giá bán buôn, tiếp thị, bán hàng, phân phối, OPEX / CAPEX liên quan đến nền tảng CNTT o Giá bán buôn có thể thay đổi theo loại Thoại / Dữ liệu / SMS / MMS. VD: Quốc gia hoặc Quốc tế (Xuất xứ /điểm đến). • Full MVNO (MVNO đầy đủ) Hình 1.4: Mô hình Full MVNO Một Full MVNO sở hữu mạng lõi và hạ tầng cung cấp dịch vụ, họ có mã nhận dạng thuê bao di động quốc tế - IMSI (International Mobile Subscriber 9 Identity), mã mạng di động (Mobile Network Code- MNC), SIM, kho số, hệ thống tính cước, quản lý khách hàng … và thương hiệu độc lập với các MNO. So với Service Operator, Full MVNO có 3 ưu điểm chính: khả năng kết thúc cuộc gọi, linh hoạt lựa chọn MNO phù hợp và có khả năng đổi mới dịch vụ phù hợp với các đối tượng khách hàng.
Nhờ các tính năng này MVNO có thể sử dụng năng lực mạng để giảm thiểu giá bán buôn lưu lượng từ các MNO và gia tăng doanh thu chịu trách nhiệm về toàn bộ cơ sở hạ tầng, hoạt động, khách hàng và dữ liệu. Những điều này cho phép nó toàn quyền kiểm soát tất cả các dịch vụ và sản phẩm mà nó cung cấp trên thị trường, cũng như tính linh hoạt trong việc thiết kế và triển khai các dịch vụ mới, ngoại trừ hệ thống Hỗ trợ kinh doanh. Full MVNO hoạt động theo cách rất giống với MNO, điểm khác biệt duy nhất của Full MVNO so với các MNO truyền thống là họ không có giấy phép phổ tần và hạ tầng mạng truy nhập. Thông thường, MVNO đầy đủ có thể cung cấp phạm vi rộng hơn cung cấp dịch vụ hoặc phát triển dịch vụ bán lẻ theo khối lượng hoặc từ một phân bổ bán buôn cố định của dung lượng mạng vô tuyến, vì họ phải sở hữu một hệ các nền tảng dịch vụ bán lẻ.
Điều này cho phép MVNO phát triển các dịch vụ của riêng mình và quản lý dung lượng dữ liệu của riêng mình, cũng như có khả năng chuyển đổi các MNOs máy chủ để có được các điều khoản truy cập bán buôn được cải thiện. Doanh thu của các MVNO đầy đủ được tạo ra từ lưu lượng truy cập của khách hàng của chính nó và doanh thu từ lưu lượng đến (Kết nối liên thông).