CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.11 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa mạo của khu vực nghiên cứu. LEI Vị trí địa lý Vịnh Bắc Bộ được bao quanh bởi lãnh thổ của Việt Nam và Trung Quốc có diện tích khoảng 126 250 km? chiều ngang nơi rộng nhất là 320 km, noi hẹp nhất khoảng 220 km. Vùng bién vịnh Bắc Bộ được giới hạn từ vĩ độ 17°00'N đến 2140 N và 1051401 109°40E, kéo dài từ Móng Cái - Quảng Ninh đến Quảng Trị với chiều đài khoảng 763 km.Vịnh nằm ở phía tây bắc biển Đông, ba mặt được bao bọc bởi đất liên. Phía tây à lục din Việt Nam và Trung Qube, Phía đông bắc là bản dio Lôi Châu và phía đồng là đảo Hải Nam.
Vùng biển vịnh Bắc Bộ có thể được phân chia làm 2 khu vực; Khu vực từ Quảng Ninh đến Ninh Bình: từ Móng Cái đến Đỗ Sơn bờ biển chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, địa hình chia cắt mạnh. Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo đá ven bd, wong đó có 26 đảo lớn, Quan trọng hơn cả là quần dio Cát Bà với tổng diện tích 34.531 ha và quần đảo Cô Tô với tổng diện tích 3. Xa bờ có đảo Bạch Long Vili đảo lớn hơn cả nằm cách đất liễn Việt Nam khoảng 110 km, cách đáo Hai Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Phan ven lục địa, đấy biển bằng phẳng, thường có các bãi tiểu, rừng ngập mặn.
Chit diy ving biển Mong Cái là bùn nhuyễn, vùng ngang khu vục Cửa Ông-Hiồn Gai à cát nhỏ lẫn vỏ 8, đã sỏi, ven bở từ cửa Bạch Đẳng đến Ninh Binh là bản ph sa. Vũng quanh các dao có nhiễu rạn đá với tổng diện tích khoảng 260 km, trong đó tập trung nhiều nhất ở Quảng Ninh Khu vực từ Ninh Bình đến Quảng Trị: Bờ biển chạy theo hướng gần Bắc-Nam. Bờ cát thoải dang vòng cong. Phía ngoài bờ rãi rác có các đảo đã phn, đã hoa cương như Hon Ne, Hon Mê, Hồn Mit, Hòn La, Hồn Nom, Đường đẳng sâu 20 m chạy cách bở3 ~ 5 km, nhiều nơi chạy sát chân các mũi đá nhô ra, Khu vực này thích hợp với ce loài hãi sin ưa sống ở các vùng ct, han hỗc và san hồ 3 TronHare (25- 12-2000) Hinh 1.1 Ban dé khu vuc Vinh Bac BO 1.2 Đặc điểm địa hình, dia mạo Vịnh Bắc Bộ có độ sâu trung bình là 50 m, độ sâu lớn nhất vào khoảng 107 m.
Địa hình đáy vịnh khá thoải với góc dốc nhỏ hơn 5’, hiếm khi lên tới 10 - 30°với các trũng (dạng tuyến cắt qua các đường đăng sâu khá phô biến). Đó là những thung lũng sông cô, chưa bị lap đầy trong kỷ băng ha lần cuối cùng. Ngoai ra còn có các đồi ngầm đá Đệ Tam và các đê cát ngầm dưới đáy Vịnh. Các dao tập trung ở ven bờ Tây Bac Vịnh.
Tổng diện tích lưu vực của Vịnh khoảng 300.000 km’ của hệ thống sông Hồng. Dai bờ vịnh thuộc Trung Quốc gồm các kiểu bờ: tích tụ do thủy triều; chia cắt kiến tạo Rias va đồng bằng aluvi. Dai bờ thuộc Việt Nam gồm các kiều bờ cơ bản: dalmatic, tích tụ thủy triều, ăn mòn sinh hóa bờ đá vôi, tam giác châu (châu thô sông Hồng- sông Mã); đồng bằng aluvi (Thanh-Nghệ-Tĩnh) và kiểu bờ biển tích tụ mài mòn bằng phẳng (Quảng Binh- Quảng Tri). Dai bờ tây vịnh có mặt các vũng vịnh, châu thé, cửa sông hình phéu, đầm phá và các đảo tập trung ở vùng ven bờ tây bắc với 6 trên 2.
Vùng bờ Móng Cái - Đồ Sơn có hướng chung đông bắc- tây nam, dài khoảng 180 km; lục địa ven biển là vùng núi thấp chia cắt mạnh và phân bậc thành các dải vòng cung thấp dần về phía biển; có 2.321 đảo với diện tích 842 km”.Vùng bờ Đồ Sơn - Lạch Trường có hướng đông bắc- tây nam dài khoảng 150 km, là tam giác châu thé sông Hồng hiện đại, địa hình thấp, bằng phẳng và trung bình 20 km có một cửa sông lớn. Day biển thoải và nông, đường dang sâu 10 m thường xa bờ 15-20 km. Vùng bờ Lạch Trường- Mũi Lạy hướng chủ đạo tây bắc- đông nam, dài 370 km, tương đối thoải, chia cắt yếu. Lục địa ven biển là các đồng bằng kẹp giữa các nhánh núi ăn lan ra biển của các dãy núi tây bắc bộ và Trường Sơn.
Vùng bờ biển có chiều ngang hep, địa hình phổ biển các bậc 20 - 25 m, 10 - 15 m, 4 m, 1,5 - 2 m, có ít đảo nhất ven bờ Việt Nam, gồm 57 đảo với tổng diện tích 14,3 km”.2 Đặc điểm khí hậu, khí tượng Khí hậu vịnh Bắc Bộ mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng trùng với mùa mưa vào gió mùa tây nam. Ở vùng bờ tây, tính chất này có sự thay đổi về phía nam khi mùa mưa bão gần trùng với đầu mùa đông lạnh. Sự khác biệt này thể hiện khá rõ tính chất giữa hai vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Nhiệt độ Không khí trung bình hàng năm khu vực ven bờ lớn hơn 22°C.
Mùa hè, nhiệt độ trung bình lớn nhất xuất hiện vào tháng 6-7, đạt giá trị từ 27-29°C, nhiệt độ cao nhất lên tới 42,2°C. Mùa đông, nhiệt độ không khí trung bình nhỏ nhất từ 15 - 17C, nhiệt độ thấp nhất có thé xuống tới 4 - 6°C. Nhiệt độ biến đổi theo vĩ độ, phía nam cao, phía bắc thấp. Đối với nước biển tầng mặt vịnh Bắc Bộ, nhiệt độ bình quân thấp nhất vào tháng 2 (19,5°C) và nước ấm dan lên đến tháng 8 đạt cực đại (bình quân 29,5°C).
Xu thế biến đổi tương tự cũng thấy ở nước tang đáy, thấp nhất vào tháng 2 là 16°C và cao nhất là tháng 8 là 27°C. Mua: Lượng mưa trung bình hàng năm ở vịnh Bắc Bộ là 1. Mưa lớn vào các tháng 7-9 và mưa it vào các tháng 12 - 2. Vùng biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa khoảng 1.000 mm với số ngày mưa trong năm khoảng 140-150 ngày.
Vùng biển từ Nghệ An đến Quảng Trị mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 hoặc tháng Giêng năm sau, lượng mưa khoảng 2.400 mm và số ngày mưa trong năm khoảng 140 - 145 ngày. Vùng khơi vịnh Bắc Bộ, tổng lượng mưa trong năm vào khoảng 1.800 mm, số ngày mưa cả năm từ 100 - 120 ngày. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9 với tổng lượng mưa khoảng 1.500 mm, chiếm khoảng 2/3 tổng lượng mưa trong năm. Trong mùa mưa, mỗi tháng có từ 12-15 ngày mưa, lượng mưa trung bình 200 — 250 mm/thang.
Gió Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng khá mạnh của các đợt gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mỗi dot gió mùa thường kéo dai từ 5 - 7 ngày, gây ra biển động, sóng lớn. Thời kỳ giao thoa giữa hai mùa gió, vào khoảng tháng 4 - 6 biển êm, thuận lợi cho nghề khai thác đặc biệt là các nghề như vây, vó, mành. nhưng trong thời kỳ này trên biển cũng thường xuất hiện những cơn dông cục bộ gây ra gió mạnh, gió xoáy, rât nguy hiêm cho tàu đánh cá. Vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có gió mùa Đông Bắc thống lĩnh, tốc độ gió trung bình 4 - 6 m/s, mạnh nhất là 20 - 24 m/s; vào mùa ha (từ tháng 5 đến tháng 10), gió thịnh hành là gió mùa Nam hoặc Đông Nam, cũng có khi là Tây Nam, tốc độ gió trung bình từ 3 - 5 m/s, mạnh nhất là 20 - 22 m/s.
Bão Mùa bão trong khu vực Vịnh Bắc Bộ từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung vào tháng 7, 8, 9. Sức gió mạnh nhất trong bão có thể đạt tới 50 m/s. Vùng biển vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới hình thành từ biển Đông và Thái Bình Dương. Trong hơn 120 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đồ vào miền Bắc 40 năm gần đây có 32 cơn đồ bộ vào Hải Phòng, Quang Ninh (chiếm 24,1%), 65 con đồ bộ vào Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh (chiếm 51,4%).
Độ ẩm: Nhiệt độ không khí giữa các vùng tương đối đồng nhất theo không gian, trung bình hàng năm trên 23°C. Đặc điểm thủy văn, hải văn, thủy động lực Vinh Bắc Bộ 1.1 Đặc diém thủy van Chế độ dòng chảy khu vực: Hệ thống dòng chảy trên khu vực vịnh Bắc Bộ bị ảnh hưởng mạnh bời hoàn lưu gió mùa châu Á, trong đó phân chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa gió Đông Bắc (mùa đông) và mùa gió Tây Nam (mùa hè). Từ tháng 11 đến tháng 2 là thời ký gió mùa đông bắc hoạt động mạnh. Vào thời kỳ tháng 1, vận tốc trung bình trên biên Đông vào khoảng 8 - 10,7 m/s, hướng gió đông bắc thịnh hành trên toàn vùng biển Đông.
Từ tháng 2 trở đi, gió đông bắc yếu dần nhưng mạnh trở lại vào tháng 4. Trong thời ky gió mùa Đông Bắc: ché độ dong chảy có hướng thịnh hành đi về phía nam, vận tốc trung bình vào khoảng từ 15 - 25 cm/s. Ở khu vực sát bờ, dòng chảy có xu thế chạy dọc theo bờ đi xuống phía nam, vận tốc dòng chảy này khá lớn vào khoảng 25 - 35 cm/s. Ở ngoài khơi về phía bắc tại khu vực giữa vịnh, dòng chảy trung bình có hướng nam đến tây nam sau đó nhập vào dòng sát bờ chảy xuống phía nam.
Vận tốc trung bình của dòng vào khoảng tử 15 - 20 cm/s. Về phía nam tại khu vực cửa vịnh, dòng chảy thường có vận tốc nhỏ hơn ở phía bắc, hướng thịnh hành có xu hướng đi về phía tây và tây nam. Từ tháng 6 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành trên biển Đông chuyền sang hướng tây nam và phát triển mạnh vào thời kỳ tháng 7 va tháng 8, vận tốc gió trung bình thời ky này vào khoảng 5,5 - 7,9 m/s. Từ tháng 10 hướng gió thịnh hành dần chuyển sang hướng đông bac.
Trong thời kỳ gió mùa Tây Nam: hoàn lưu khu vực được thiết lập lại, dòng chảy tại khu vực có xu thé đi lên phía bắc với vận tốc trung bình vào khoảng từ 10 - 20 cm/s. Vào thời kỳ này, khu vực giữa Vịnh Bắc Bộ hình thành một hoàn lưu nghịch. Vận tốc của hoàn lưu này không lớn, trung bình khoảng 8 - 12 cm/s. Nước duy trì hoàn lưu này 9 được đưa lên từ vùng biển trung bộ đi lên, hoàn lưu này tồn tại đến hết tháng 8.