Đặt vấn đề Chấm điểm tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc tăng khả năng tiếp cận của khách hàng đến các nguồn vay và cho phép phân tán rủi ro, tối ưu việc phân bổ các chi phí và dự trữ tài chính một cách hiệu quả hơn. Tính sẵn có của thông tin và việc các dữ liệu được tự do chia sẻ một cách khách quan chính là nền tảng của một nền kinh tế thị trường hiện đại và hiệu quả. Xếp hạng tín dụng cho phép cá nhân và các tổ chức tín dụng có thể tự do giao dịch với nhau, bởi vì tổ chức tín dụng càng có thông tin đầy đủ và khách quan thì càng đáp ứng được một cách chính xác hơn nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng [2]. Chấm điểm tín dụng đem lại nhiều lợi ích cho mọi tầng lớp của nền kinh tế.
Điểm tín dụng cho phép tổ chức cho vay mở rộng tiếp cận tới các phân khúc thị trường mà trước đây chưa được phục vụ đầy đủ. Các quyết định giờ đây được đưa ra nhanh chóng và khách quan hơn, điểm tín dụng góp phần giúp phần lớn các hồ sơ vay nhận được câu trả lời trong thời gian chỉ tính bằng phút, thay vì bằng ngày. Hơn nữa, việc dự đoán rủi ro một cách có hiệu quả hơn bằng cách chấm điểm tín dụng, tổ chức cho vay có thể giảm chi phí cho các dịch vụ thiết yếu như cho vay thế chấp, cho vay tiêu dùng cá nhân và thẻ tín dụng. Cụ thể, mặc dù được mở rộng tới những thị trường trước đây chưa được phục vụ đầy đủ, tỉ lệ rủi ro thực tế khi sử dụng điểm tín dụng vẫn thấp hơn, do tổ chức cho vay có thể quản lý rủi ro một cách hiệu quả hơn và duy trì rủi ro ở mức độ thích hợp.
12 Chấm điểm tín dụng đóng vai trò thiết yếu giúp một hệ thống tài chính hiện đại hoạt động tốt [3]. Việc trao đổi thông suốt thông tin một cách trung lập và khách quan giữa các đối tác hợp pháp cho phép tổ chức cấp tín dụng đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng, chính xác và cạnh tranh hơn để phê duyệt được nhiều hồ sơ xin vay hơn, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng, đặc biệt là tới những nhóm đối tượng mà trước đây chưa được phục vụ đầy đủ hoặc chưa thể tiếp cận được các nguồn tài chính này. Ngoài ra, chấm điểm tín dụng giúp tổ chức cho vay có thể định giá các sản phẩm dựa vào từng mức độ rủi ro khác nhau, duy trì sự công bằng về chi phí vốn tương ứng với mức độ rủi ro của các khách hàng. Điểm tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng khi cấp tín dụng cho các phân khúc thị trường mà trước đây chưa được phục vụ đầy đủ.
Lấy thị trường Hoa Kỳ làm ví dụ, vào năm 2001, 75% số hộ gia đình đã tham gia vào thị trường tín dụng tiêu dùng và tín dụng thế chấp, 73% số hộ gia đình sở hữu ít nhất một thẻ tín dụng vì sử dụng cho mục đích chung và có gần một phần ba số hộ gia đình thuê hoặc vay tiền mua xe hơi. Kể từ năm 1970, sau khi FCRA, đạo luật đầu tiên cho phép báo cáo tín dụng và chấm điểm tín dụng tại Hoa Kỳ, được ban hành, khả năng tiếp cận tín dụng nguồn vốn tín dụng của các khách hàng đã được tăng đáng kể, đặc biệt ở nhóm Hộ gia đình, phân khúc thị trường mà trước đây chưa được phục vụ đầy đủ. Cụ thể, việc tiếp cận tín dụng của những khách hàng thuộc nhóm 20% có thu nhập thấp nhất đã tăng 70% trong khoảng từ năm 1970 đến năm 2001 (Xem chi tiết biểu đồ dưới đây) [4]. 13 80 70 % thay đổi 60 50 40 30 20 10 0 Thấp nhất Thấp thứ nhì Nhóm giữa Cao thứ nhì Cao nhất Nhóm Thu nhập Hình 1-1 Thay đổi về Tỷ lệ hộ gia đình tại Hoa Kỳ sử dụng nguồn vốn tín dụng [4] Chấm điểm tín dụng đã giúp đưa ra các quyết định cho vay nhanh chóng và công bằng hơn.
Ngay cả những quyết định cho vay với số tiền lớn lớn giờ đây cũng có thể được đưa ra với thời gian chỉ tính bằng giờ hoặc bằng phút, thay vì tính bằng ngày hoặc bằng tuần như trước đây. Trong một nghiên cứu tiến hành năm 2001 tại thị trường Hoa Kỳ, 84% các khoản vay mua xe hơi được nhận được quyết định trong vòng 1 giờ, 23% các khoản vay mua xe hơi được nhận được quyết định trong vòng 10 phút; và phần lớn người bán lẻ nhận báo có tiền bán hàng bằng tín dụng trong vòng dưới 2 phút [5]. Ngoài tốc độ và sự tiện lợi, điểm tín dụng còn giúp cho các khoản tín dụng có chi phí thấp hơn, cụ thể là khách hàng chỉ phải trả chi phí thấp hơn và có khả năng tiếp cận cao hơn với các khoản tín dụng. Sự gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng có thể khiến người ta lo ngại về nguy cơ cho vay vượt quá khả năng chi trả hoặc các vấn đề về đạo đức, đặc biệt là ở nhóm có thu nhập thấp.
Tuy nhiên, việc chấm điểm tín dụng làm tăng cường tính chính xác và có khả năng dự báo về chất lượng tín dụng của các khoản vay phát sinh, cho nên điều lo ngại này không xảy ra. 14 Dù khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng đã tăng đáng kể, tổng gánh nặng vay nợ tại thị trường Hoa Kỳ vẫn giữ tương đối ổn định trong vòng 20 năm qua, ở mức từ 11. Hình 1-2 Gánh nặng vay nợ của Hộ gia đình trong Tổng thu nhập khả dụng của Cá nhân [4] Trên thực tế, chấm điểm tín dụng cho phép tổ chức tín dụng chủ động hơn trong việc ngăn chặn cho vay vượt quá khả năng chi trả và các vấn đề về đạo đức. Điểm tín dụng giúp tổ chức tín dụng khi cho vay có thể đánh giá rủi ro một cách liên tục và đưa ra những biện pháp kịp thời, vì vậy tỷ lệ nợ quá hạn tại Hoa Kỳ rất thấp.
Trong quý IV năm 2002, chỉ có 3.9% trong tổng số người đi vay thế chấp chậm trả trong 30 ngày hoặc lâu hơn, 4.6% người đi vay sử dụng thẻ tín dụng chậm trả 30 ngày hoặc lâu hơn, và 60% người đi vay tại Hoa Kỳ chưa bao giờ chậm trả trong vòng 7 năm trở lại đây [4]. Vì vậy, chấm điểm tín dụng ngày càng được các định chế cho vay sử dụng nhiều hơn trong việc đánh giá tín dụng. Hiện nay, người dân, đặc biệt là người dân 15 ở các nước phát triển, cần có mức điểm tín dụng tốt nhằm tiếp cận tín dụng để mua nhà hay ô tô, bắt đầu kinh doanh, học đại học hoặc theo đuổi các mục tiêu quan trọng khác. Với nhiều người tiêu dùng, điểm tín dụng tốt cũng là điều kiện cần để tiếp cận với việc làm, thuê nhà hoặc sử dụng các dịch vụ thiết yếu khác như bảo hiểm… Đối với các định chế cho vay, chấm điểm tín dụng giúp họ tăng tốc độ phê duyệt khoản vay, giảm mạnh chi phí, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, tăng khả năng sinh lời [6].2 Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá khách hàng Trong kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng yêu cầu các quyết định tín dụng phải vừa nhanh, vừa có độ rủi ro thấp, vừa có hiệu quả cao.
Nếu không sẽ dễ mất đi cơ hội tăng thu nhập và mở rộng quy mô tín dụng do khách hàng tìm đến các tổ chức tín dụng khác hoặc tìm nguồn tài trợ bên ngoài. Muốn có quyết định nhanh và chính xác, tổ chức tín dụng phải dự đoán tương đối chính xác về khả năng và thiện chí trả nợ của khách hàng. Điều này phụ thuộc vào yếu tố quan trọng là hệ thống thông tin của các tổ chức tín dụng về khách hàng trong quá khứ và hiện tại [8]. Yêu cầu đặt ra là các tổ chức tín dụng phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy và thực hiện tốt công tác chấm điểm tín dụng nhằm tạo cơ sở cho việc đưa ra các quyết định tín dụng tối ưu.
Thông qua kết quả chấm điểm tín dụng khách hàng, tổ chức tín dụng sẽ đánh giá được mức độ tín nhiệm của từng khách hàng vay vốn, xác định được mức độ rủi ro khi cung cấp khoản vay, cụ thể là khả năng trả nợ vay. Dựa vào kết quả chấm điểm tín dụng, tổ chức tín dụng sẽ quyết định cho vay hay từ chối cho vay, đảm bảo tính khách quan, khoa học. 16 Cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng, danh mục tín dụng Trên cơ sở chấm điểm tín dụng, tổ chức tín dụng sẽ phân loại khách hàng và áp dụng các chính sách về lãi suất cho vay, hạn mức, thời hạn tín dụng phù hợp. Đây cũng là cơ sở xây dựng chính sách tín dụng, áp dụng kỹ thuật cho vay tương ứng với mỗi nhóm khách hàng cụ thể.
Đối với khách hàng có độ tín nhiệm cao, điểm tín dụng tốt, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách ưu đãi: cho vay với lãi suất thấp, giá trị khoản vay lớn, điều kiện cho vay nới lỏng hơn, v. Ngược lại, đối với khách hàng có độ tín nhiệm thấp, điểm tín dụng thấp cũng đồng nghĩa với những khoản tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách cho vay và biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn, nhằm hạn chế khả năng rủi ro vỡ nợ xảy ra. Dựa vào kết quả chấm điểm tín dụng, tổ chức tín dụng sẽ đánh giá được mức độ rủi ro của từng cá nhân, nhóm khách hàng cá nhân từ đó xây dựng danh mục tín dụng phù hợp với định hướng trong từng thời kỳ. Cơ sở để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro Theo Điều 4 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước thì các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ cho việc phân loại nợ, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế của tổ chức tín dụng [9].
Việc hỗ trợ của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được thể hiện ở chỗ kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ làm căn cứ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 [9].