CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH HÀNG RONG 1. Khái niệm và đặc điểm và phân loại kinh doanh hàng rong 1. Khái niệm kinh doanh hàng rong Kinh doanh hàng rong xuất hiện ở hầu khắp mọi nơi tại các đô thị lớn ở nước ta, thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ.
Hình thức kinh doanh này xuất hiện cả ở những khu vực miền đồng bằng sông Cửu Long, bán hàng hoá trên những chiếc thuyền hay ca nô chạy dọc theo các kênh rạch, con sông lớn, là tiền đề để hình thành những chợ nổi nổi tiếng trên sông. Dễ hiểu cụm từ “hàng rong” ở đây không nhằm chỉ về một loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, mà nhằm để chỉ về một phương thức tổ chức kinh doanh. Tham khảo điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP và Điều 2 Quy định số 46/2009/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 15 tháng 01 năm 2009 về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà Nội thì “Người bán hàng rong là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh, không có địa điểm kinh doanh cố định và không gọi là "thương nhân" theo quy định của Luật Thương mại.” Như vậy, bán hàng rong đa phần thường là bán hàng không có địa điểm cố định, có sự di chuyển liên tục giữa các địa điểm khác nhau. Trong Nghị định số 39/2007/NĐ-CP có đề cập về buôn bán rong, theo đó, “buôn bán rong là hoạt động mua bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong bán rong) bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hoá phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong”.
Có thể hiểu rằng, từ “bán rong” theo Nghị định số 39/2007/NĐ-CP có nội hàm kinh doanh không cố định. Kinh doanh hàng rong chứa đựng trong nó một nội dung của nội hàm có tính chất “rong”. “Rong” ở đây để chỉ các hoạt động mua bán của người dân có liên quan đến vỉa hè, đường hẻm khu vực 123doc 9 đông dân cư (không phải là tại các chợ, nơi được quy hoạch chính thức). Buôn bán hàng rong có thể chia thành hai nhóm đối tượng hoạt động chính: nhóm cố định (có mặt tiền nhà kết hợp với không gian công cộng – vỉa hè) và nhóm lưu động (không có mặt tiền nhà, buôn bán ngay lòng lề đường, trên vỉa hè, đường hẻm khu dân cư).6 Nói cách khác, một đặc trưng của kinh doanh hàng rong diễn ra ở không gian mở - ngoài trời.
Có quan điểm cho rằng kinh doanh hàng rong là bán hàng hoá không có địa điểm kinh doanh cố định. Quan điểm này xuất phát từ Nghị định số 39/2007/NĐ- CP khi cho rằng người bán hàng rong “không có địa điểm kinh doanh cố định”. Tuy nhiên, tác giả không đồng tình với quan điểm này. Thực tế cho thấy, những người kinh doanh hàng rong không nhất thiết phải bán hàng hoá bằng một cách thức duy nhất là di chuyển liên tục đến các địa điểm khác nhau một cách ngẫu nhiên, tuỳ thuộc vào đặc tính của hàng hoá, dịch vụ mà họ lựa chọn cho mình cách thức kinh doanh, địa điểm kinh doanh phù hợp để buôn bán.
Do đó, người kinh doanh hàng rong cũng cần có những thị phần riêng, khách hàng riêng, các địa điểm riêng, khu vực kinh doanh nhất định. Mặt dù có thể người bán hàng rong thường xuyên di chuyển, nhưng sự di chuyển trong tính toán, đến những khu vực, địa bàn xác định. Thậm chí có nhiều người kinh doanh hàng rong chỉ bán được vào một số thời gian trong một ngày, phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hoá, điều kiện tự nhiên, mà họ sẽ tìm cách buôn bán rong tốt nhất. Xét về các quy luật của thị trường, tại những địa bàn quen thuộc, sự cạnh tranh diễn ra theo xu hướng ngày càng gay gắt những chủ thể kinh doanh với nhau, do đó việc giữ khách hàng quen là một cách thức cạnh tranh lành mạnh hữu hiệu, việc di chuyển ngẫu nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro trong kinh doanh.
Vì vậy, người kinh doanh hàng rong phải tìm những địa điểm thuận lợi cho việc kinh doanh của mình và bán ở những khu vực xác định trong những khung thời gian phù hợp. Chỉ khi nào mà việc kinh doanh ở những khu vực 6 Đỗ Văn Tính, “Hoạt động buôn bán hàng rong tại Việt Nam”, http://kqtkd.vn/Home/ArticleDetail/vn/88/3259/hoat-dong-buon-ban-hang-rong-tai- viet-nam 123doc 10 đó không hiệu quả thì họ mới có động lực để di chuyển đến không gian khác thuận lợi hơn, nhưng những sự di chuyển đó cũng nằm trong toan tính. Vì vậy mà về mặt hiện tượng, ta thấy người bán hàng rong hay di chuyển, nhưng cần lưu ý rằng sự di chuyển này (kinh doanh lưu động) nằm trong phương thức kinh doanh xác định, đến những địa điểm, thời gian cụ thể, loại trừ yếu tố ngẫu nhiên. Do đó, nếu dùng tiêu chuẩn “không có địa điểm cố định” để xác định kinh doanh hàng rong thì chưa mô tả được bản chất của hoạt động này.
Bên cạnh đó, trên báo chí chúng ta còn bắt gặp thuật ngữ kinh doanh trên vỉa hè. Thật ra thì trong hoạt động kinh doanh một trong những yếu tố quyết định nên sự thành công của người kinh doanh là địa điểm kinh doanh. Hầu như mọi chủ thể đều mong muốn có được những địa điểm kinh doanh tốt, có thể đem lại nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. Thực tế hiện nay cho thấy, vỉa hè, đường phố tại các thành phố đã và đang trở thành địa điểm lý tưởng cho nhiều loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Dù các cơ quan chức năng có ra sức ngăn cản đến đâu chăng nữa, nhưng với khu vực lý tưởng này nó khó làm cho người kinh doanh chùn bước chạy đua tìm kiếm một nơi phù hợp trên đường phố, vỉa hè. Vấn đề là bán hàng rong và bán vỉa hè có mối quan hệ với nhau như thế nào? Thường thì những người bán vỉa hè không có điều kiện về sở hữu hay quyền sử dụng mặt bằng, người bán hàng vỉa hè tận dụng những khu vực công cộng nơi đông người để tiến hành kinh doanh. Và khi bị cơ quan chức truy đuổi xử phạt, thì những người bán hàng trên vỉa hè có hành động bỏ chạy, di chuyển đến những khu vực khác. Theo quan điểm của tác giả, thì những quán ăn, kinh doanh vỉa hè cũng là một dạng tồn tại của kinh doanh hàng rong, nhưng đặc trưng bởi việc kinh doanh tại khu vực vỉa hè.
Nói cách khác, cụm từ “kinh doanh trên vỉa hè” mang nặng tính báo chí, chưa được luật hoá trong bất kì văn bản pháp lý nào. Kế đến, các cụm từ khác nhau như “buôn bán vặt”, “bán quà vặt” có nội hàm khác nhau như thế nào. Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, 123doc 11 nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định. Có thể thấy, “buôn bán vặt” và “bán quà vặt” dựa vào tiêu chí “có hoặc không có địa điểm cố định”, còn “kinh doanh hàng rong” thì không có địa điểm cố định, tuy nhiên việc nhận diện có hay không có địa điểm cố định rất khó.
Theo quan điểm của tác giả thì các thuật ngữ này đồng nghĩa, không có nội hàm khác nhau, nhưng trong bối cảnh xây dựng Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, các nhà lập pháp có lẽ đã gặp lúng túng khi tìm một cụm từ ngắn gọn, rõ nghĩa để chỉ về những người bán hàng rong, nên họ đã sử dụng cách làm an toàn là liệt kê tất cả những từ này vào Nghị định số 39/2007/NĐ-CP. Cụ thể, Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này liệt kê các hình thức hoạt động kinh doanh của “cá nhân hoạt động thương mại”: buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.7 Cách liệt kê này rộng hơn so với những chủ thể được Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định không phải 7 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP: 1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây: a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong; b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định; d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ; đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.
Kinh doanh lưu động là các hoạt động thương mại không có địa điểm cố định. 123doc 12 đăng ký kinh doanh, cụ thể những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (Khoản 2 Điều 66). Như vậy, “kinh doanh hàng rong” là một trong những hình thức tổ chức công việc kinh doanh của “cá nhân hoạt động thương mại”, nói cách khác thì “cá nhân hoạt động thương mại” là chủ thể, còn “kinh doanh hàng rong” là hành vi của chủ thể. Thực tế thì kinh doanh hàng rong rất đa dạng, từ việc bán những món ăn, thức uống tại chỗ, đến những món hàng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của cá nhân, gia đình.