ĐẶT VẤN ĐỀ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một vật liệu mới ra đời mà thuộc tính của nó phù hợp với mọi ứng dụng trong cuộc sống. Nhựa trở thành vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất, được ra đời vào năm 1933 tại một nhà máy ở Northwich, Anh. Năm 1965, túi nilon được cấp bằng sáng chế bởi Celloplast, một người gốc Thụy Điển và được thay thế dần túi vải ở Châu Âu. Năm 1980, túi nilon đã chiếm 80% thị trường ở Châu Âu và lan nhanh ở Mỹ.
Năm 1982, hai siêu thị lớn của Mỹ, Safeway và Kroger chuyển từ túi giấy sang túi nhựa và sau đó được thay thế trên toàn thế giới (1). Túi nilon rất phổ biến với người tiêu dùng và các nhà sản xuất, vì chúng tiện lợi, hợp vệ sinh và đóng gói nhẹ. Mặt khác, túi nilon trở thành mối nguy hiểm đối với môi trường, khi bị chôn lấp chúng không bị phân hủy trong một thời gian dài, nếu bị vứt bỏ ngoài môi trường hay ngoài đại dương thì càng nghiêm trọng hơn(2). Trên thế giới, trong lượng rác thải nhựa thì khoảng một nửa là túi nilon, phần lớn rác thải này chủ yếu tại Châu Á, trong khi các nước Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu là các nhà sản xuất nhựa lớn nhất thế giới.
Việc xử lý rác thải nhựa đã bị quá tải vì chỉ có 9% rác thải nhựa được tái chế. Với việc tiêu thụ sản phẩm nhựa và quản lý rác thải nhựa như hiện nay thì đến năm 2050 có khoảng 12 tỷ tấn rác thải nhựa(3). Các nghiên cứu chỉ ra rằng túi nilon có thể lên đến hàng nghìn năm để phân hủy, nguy cơ làm ô nhiễm môi trường đất và nước. Theo một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 thì trung bình mỗi người dân sử dụng 312 túi nilon/năm(4).
Và một nghiên cứu tại Indonesia năm 2020 có khoảng 9,85 tỷ túi nilon được sử dụng tại hệ thống siêu thị đất nước này, kết quả nghiên cứu cho thấy 90% người dân vẫn sử dụng túi nilon để đựng hàng hóa, thực phẩm(5). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Chu Huyền Xiêm vào năm 2011 tại một phường của Hà Nội trung bình mỗi hộ gia đình dùng 9,07 túi/ngày, tỷ lệ người nội trợ mua thêm túi nilon về sử dụng khá cao 87,6%(6). Một nghiên cứu khác của Nguyễn Minh Hằng năm 2020 tại một thị trấn thuộc tỉnh Bắc Giang trung bình mỗi hộ gia đình 5.21 túi/ngày, tỷ lệ người nội trợ mua thêm túi nilon về sử dụng cũng khá cao 68,6%(7). Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ thải bỏ túi nilon hàng ngày rất cao, trong khi các biện pháp giảm thiểu chất thải nhựa hiện nay chưa đáp ứng được, có nguy cơ ô 2 nhiễm môi trường đất và nước.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Việt Nam là một Quốc gia có mức độ ô nhiễm rác thải nhựa lớn trên thế giới. Chính phủ đang quyết liệt thực hiện các chính sách và giãi pháp kiểm soát hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải nhựa(8). Theo kết quả điều tra của Cục Kiểm soát ô nhiễm – Bộ TNMT tại 5 tỉnh và thành phố đại diện cho ba vùng miền, bình quân mỗi hộ gia đình sử dụng 223 túi/tháng, tương đương 1kg túi nilon/tháng/hộ(9).
Theo số liệu của Bộ TNMT, số bao nhựa và túi nilon sử dụng ngày càng tăng ở Việt Nam nên lượng thải bỏ tăng dần theo từng năm trong khi tỷ lệ chất thải nhựa không được tái sử dụng, phải chôn lấp chiếm khoảng 8%, tương đương với khoảng 2,5 triệu tấn/năm. Hiện nay, người tiêu dùng và các nhà sản xuất sử dụng lạm dụng túi nilon, làm cạn kiệt dần ngồn tài nguyên thiên nhiên, mặt khác túi nilon có đặc tính khó phân hủy, cho nên xử lý rác thải từ túi nilon là một thách thức rất lớn, cần tiếp tục có những hành động tích cực trong mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương đặc biệt trong cộng đồng doanh nghiệp và dân cư(10). Thị trấn Quán Hàu là thị trấn huyện lị của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, có tổng số diện tích 3,31 km2, nằm phía Đông bắc huyện Quảng Ninh. Là trung tâm chính trị, văn hóa của huyện Quảng Ninh trong những năm qua đã có những bước phát triễn vượt bậc đáng kể; phát triễn kinh tế theo hướng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Địa bàn nghiên cứu là nơi tập trung đông dân cư, nhu cầu sử dụng túi nilon cao. Mặt khác, chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành về việc sử dụng túi nilon của người nội trợ chính trong gia đình được thực hiện tại đây. Vậy nên tôi thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến sử dụng túi nilon của người nội trợ chính tại Thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thực hành về sử dụng túi nilon của người nội trợ chính trong gia đình tại Thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành sử dụng túi nilon của người nội trợ chính trong gia đình tại Thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu 1.
Định nghĩa và phân loại túi nilon Túi nilon là loại bao bì làm bằng nhựa, có tính chất mỏng nhẹ và rất dẻo dai. Vì tính chất tiện lợi và giá thành rẻ nên được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Nguyên liệu chính để sản xuất túi nilon là nhựa polyethylene, có nguồn gốc từ dầu mỏ và khí tự nhiên, cho nên quá trình phân hủy của túi nilon rất chậm có thể lên đến 1000 năm(11,12). Giảm sử dụng túi nilon là một bước cần thiết làm giảm số lượng rác thải và giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất, nước và hệ sinh vật(13).
Tái sử dụng túi nilon là sử dụng lại túi nilon đã qua sử dụng cho chính mục đích cũ hay mục đích khác, sử dụng túi nilon nhiều lần cho đến điểm kết thúc là tại bãi rác. Tái chế túi nilon là sử dụng túi nilon đã qua sử dụng làm nguồn nguyên liệu sản xuất ra các sản phẩm mới có ích(14). Đặc tính của túi nilon: trong suốt, mềm bóng, trơ; chống thấm nước; chịu lực tốt, chịu được nhiệt độ cao. Do đó, túi nilon được sử dụng với nhiều mục đích thiết thực trong cuộc sống hàng ngày; nếu sử dụng và xử lý rác thải không hợp lý thì gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường; nên cần sử dụng túi nilon đúng cách, nâng cao ý thức để cuộc sống tươi đẹp hơn(11,15).
Túi nilon có hai loại chủ yếu được sử dụng phổ biến hiện nay: Túi HDPE (High Density Polyethylene) hay còn gọi là túi xốp, là túi polyethylene tỷ trọng cao, có giá rẻ, mỏng và nhẹ, thường được dùng làm túi đựng rác, đựng thực phẩm ở chợ, cửa hàng bán lẻ và siêu thị. Túi nilon ngoài những ưu điểm và lợi ích mang lại trong cuộc sống, thì nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe khi chúng ta lạm dụng và sử dụng túi nilon bừa bãi. Cho nên, chúng ta sử dụng túi nilon một cách hợp lý sẽ làm giảm tác hại của nó đến môi trường. 5 Tập trung tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao ý thức người dân về hạn chế sử dụng túi nilon khó phân hủy; Không cấp phát miễn phí túi nilon khó phân hủy cho người tiêu dùng; Khuyến khích người dân hạn chế hoặc nói không với túi nilon trong các hoạt động mua sắm.
Hạn chế sử dụng hoặc nói không với túi nilon là giãi pháp hữu hiệu nhất hiện nay nhằm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, kéo dài nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt trên Trái đất và bảo tồn được nhiều loài sinh vật biển hơn(14,18). Trước hết, cần phân loại túi nilon đã qua sử dụng, tái sử dụng túi nilon nhiều lần trước khi vứt bỏ đúng quy định. Chúng ta nên tái sử dụng các loại túi được làm bằng nhựa polyester hay polypropylene, thân thiện với môi trường và thích hợp cho việc tái sử dụng nhiều lần(14,19,20). Thói quen sử dụng lạm dụng túi nilon như hiện nay đang làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiệm trọng đến sức khỏe.
Dùng các vật dụng khác thân thiện với môi trường thay thế túi nilon khó phân hủy là giải pháp có hiệu quả trong công tác giảm thiểu rác thải nhựa hiện nay(19,21). Khi vứt bỏ túi nilon bừa bãi ra ngoài môi trường có thể gây tắc các đường ống cống rãnh, tạo các vùng nước đọng là nơi phát triển của các loại virut, vi khuẩn gây nguy cơ xuất hiện các dịch bệnh, như sốt xuất huyết, các bệnh về đường tiêu hóa… Cần phải vứt bỏ rác túi nilon đúng nơi để thu gom và xử lý theo quy định(22). Thực trạng tiêu thụ túi nilon trên thế giới và tại Việt Nam Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, mỗi năm cả thể giới thải ra khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó có khoảng 13 triệu tấn bị đổ ra biển, mỗi phút có khoảng 1 triệu chai nhựa và trung bình có khoảng 500 tỷ túi nilon được tiêu thụ hàng năm trên thế giới(23,24). Ở Châu Phi, từ năm 1990 đến năm 2017 ước tính khoảng 230 triệu tấn nhựa đã được nhập khẩu, ngoài ra sản xuất nhựa nguyên sinh ở 8 quốc gia Châu Phi đóng góp 15 triệu tấn nhựa trong những năm 2009 đến 2015.
Họ cho rằng sản xuất và tiêu thụ nhựa sẽ tăng lên trong tương lai nên cần có giãi pháp giảm thiểu việc sử dụng nhựa và túi nilon(25). Hiện nay người dân khu vực EU sử dụng khoảng 100 tỷ túi nhựa trên mỗi năm. Ở Ai Len, Đan Mạch và Phần Lan được thực hiện các biện pháp, chế tài giảm thiểu 6 RTN nên việc tiêu thụ túi nhựa giảm hơn rất nhiều chỉ khoảng 5-8 túi nilon cho mỗi người(16). Còn Trung Quốc hơn 3 tỷ túi nhựa được sử dụng mỗi ngày, chính quyền tại đây đã có những chính sách và lệnh cấm nhưng nhiều người dân vẫn sử dụng túi nilon hằng ngày(26).
Trong khi tại Việt Nam, tỷ lệ tiêu thụ chất dẻo gồm túi nilon và chai nhựa bình quân đầu người ở Việt Nam tăng nhanh từ 3,8kg/người năm 1990 lên đến 63 kg/người năm 2017, trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng túi nilon khoảng 1kg/tháng. Việc sử dụng túi nilon của người dân tăng mạnh và gây nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường(27).